Tìm kiếm

Thứ Hai, 9 tháng 1, 2012

Sự thiếu thống nhất đôi khi lại có ưu điểm

Tác giả: ĐÌNH NGÂN DỊCH TỪ FOREIGN AFFAIRS
Nguồn: Tuần Vietnamnet, ngày 29/12/2011
Ngày nay, các công ty tư nhân song hành tồn tại với các doanh nghiệp nhà nước và các kế hoạch năm năm tồn tại đồng thời với kiểu tự do cho tất cả của chủ nghĩa Tư bản. Theo phong cách tương tự, Trung Quốc đang cho phép thị trường vốn NDT tự do phát triển tại Hồng Kông bên cạnh thị trường vốn hạn chế, ít cải tổ ở đại lục. Sự kết hợp chính sách này có thể không thống nhất, nhưng cuối cùng nó lại hóa ra thành công.
>> Kỳ 1: Chủ nợ của thế giới và các nhóm lợi ích trong cải cách
Cỗ xe và con ngựa
Một hậu quả của những mâu thuẫn nội bộ này là trình tự cải cách chẳng giống ai. Như nhà kinh tế học Takatoshi giải thích, cách tốt nhất để mở cửa một hệ thống tài chính bị kiềm chế, tự lực là bắt đầu với cải cách tài chính trong nước. Trước khi một khối lượng vốn nước ngoài lớn được phép đưa vào hoặc ra khỏi hệ thống của một nước, các ngân hàng cần được vốn hóa tốt và quản lý một cách hiệu quả. Thị trường trái phiếu phải sâu và thanh khoản tốt, để có thể hấp thụ tiền nước ngoài mà không gây ra những chấn động giá cả mạnh.
Chính quyền phải mời chào đa dạng nhà đầu tư, với thời hạn đầu tư, đối tượng đầu tư và thế giới quan khác nhau - một kiểu đa dạng hóa làm giảm hành vi bầy đàn gây bất lợi. Chỉ khi hệ thống tài chính trong nước được củng cố theo hướng này, việc mở cửa nền kinh tế cho dòng vốn nước ngoài vào, để tỷ giá thả nổi, và cho phép nội tệ của một nước lưu thông ở bên ngoài, mới đảm bảo an toàn. Quốc tế hóa đồng tiền nên là điểm cuối cùng của quá trình cải cách, chứ không phải là điểm khởi đầu.
Nhưng Trung Quốc đang không đi theo theo trình tự này. Quan điểm chính trị chủ đạo ở Trung Quốc vẫn phản đối cải cách nhanh chóng tài chính trong nước và linh hoạt hóa tỷ giá, vì thế các nhà cải cách đã đặt ra vấn đề quốc tế hóa tiền tệ trước khi các điều kiện tiêu chuẩn cần thiết được đáp ứng.Từ sau bài diễn văn năm 2008 của Hồ Cẩm Đào, Trung Quốc đã ký các hiệp định trao đổi tiền tệ ngân hàng trung ương mang nhiều ý nghĩa tượng trưng với 13 quốc gia, trong đó bao gồm Argentina, Belarus, Indonesia, Malaysia, và Hàn Quốc.
Tháng 9/2011, ngân hàng trung ương Nigeria tuyên bố sẽ chuyển đổi từ 5-10% lượng dự trữ ngoại tệ sang đồng NDT. Nhưng cuộc cải cách quan trọng nhất bắt đầu vào tháng 4/2009, khi chính phủ Trung Quốc cho phép năm khu vực thí điểm - Đông Quan, Quảng Châu, Thượng Hải, Thâm Quyến, Chu Hải - bắt đầu tiến hành giao dịch với Hồng Kông bằng NDT trên cơ sở thử nghiệm. Tháng 6/2010, chương trình thí điểm mở rộng ra 20 tỉnh thành và khu vực tự trị và đến năm ngoái được mở rộng ra toàn quốc. Kết quả bùng nổ giao dịch bằng đồng NDT được một số người đánh giá là thành công. Nhưng như Peter Garber của ngân hàng Deutsche giải thích, tăng trưởng của Trung Quốc đang thể hiện rõ sự thiếu cân bằng, và sẽ dẫn đến một số hậu quả nghiêm trọng ngoài mong muốn.
Do người nước ngoài kỳ vọng đồng tiền của Trung Quốc sẽ tăng giá so với đồng USD, họ háo hức mua bất cứ đồng NDT nào đến được Hồng Kông, nơi tiền tệ này được gọi là CNH, để phân biệt với tiền đại lục đôi khi vẫn được gọi là CNY. Kết quả là, CNH có xu hướng tăng giá so với đồng USD, mở ra khoảng chênh lệch giữa tỷ giá NDT/USD tại đại lục (do chính phủ Trung Quốc quản lý), và tỷ giá CNH/USD ở Hồng Kông (không do chính phủ Trung Quốc quản lý). Sự chên lệch này khuyến khích các nhà nhập khẩu Trung Quốc thanh toán với các nhà cung cấp nước ngoài bằng đồng CNH hơn là bằng đồng USD mua từ ngân hàng trung ương tại mức tỷ giá chính thức thấp hơn.
Khi các nhà nhập khẩu Trung Quốc tận dụng tỷ giá có lợi tại Hồng Kông, họ chuyển tiền từ đại lục vào các tài khoản CNH tại Hồng Kông và sau đó sử dụng số tiền CNH đó để mua hàng hóa từ các nhà xuất khẩu nước ngoài. Người nước ngoài sau đó hoặc giữ đồng CNH với kỳ vọng nó sẽ tăng giá, hoặc, nếu họ không quan tâm đầu cơ tiền tệ, sẽ bán CNH cho người nước ngoài khác muốn đặt cược vào đây. Cứ như thế, đồng tiền của Trung Quốc tích lũy ngày một nhiều tại Hồng Kông. Một số nhà phân tích thị trường dự báo, sau khi đã tăng 10 lần kể từ sau bài diễn văn năm 2008 của Hồ Cẩm Đào, đến cuối năm 2012, tiền gửi bằng đồng NDT tại Hồng Kông sẽ tăng gấp bốn lần so với mức hiện nay, lên tương đương khoảng 340 tỷ USD.
Đây không phải là điều các nhà hoạch định chính sách Trung Quốc toan tính. Về mặt kĩ thuật, việc giải phóng các quy định thanh toán thương mại bằng NDT sẽ ảnh hưởng đến cả các xuất khẩu cũng như nhập khẩu Trung Quốc. Nếu nhà xuất khẩu cố gắng khai thác sự tự do mới này, số CNH tăng lên tại Hồng Kông sẽ tiêu hao đi nhanh chẳng kém lúc tích lũy. Nhưng động lực với các nhà xuất khẩu thì trái ngược với các nhà nhập khẩu. Thay vì đi từ Hồng Kông, các nhà xuất khẩu muốn nhận thanh toán bằng đồng USD hơn và sau đó bán USD cho ngân hàng trung ương tại mức tỷ giá quản lý, điều này mang đến giá trị giả tạo cho đồng USD.
Kết quả cuối cùng đã được chứng minh trong kinh điển. Trước khi thị trường CNH Hồng Kông mở cửa, các nhà nhập khẩu Trung Quốc thường mua ngoại tệ từ ngân hàng trung ương Trung Quốc, làm vơi dần kho dự trữ tài sản USD của ngân hàng. Hiện nay, các nhà nhập khẩu có thể mua ngoại tệ gián tiếp từ các nhà đầu cơ nước ngoài ở Hồng Kông, khiến số USD cứ đầy thêm trong bảng cân đối của ngân hàng trung ương. Nói cách khác, khả năng thanh toán cho người nước ngoài bằng đồng CNH của các nhà nhập khẩu Trung Quốc có tác động xóa bỏ một nguồn mua USD lớn từ thị trường tiền tệ thế giới. Giả sử ngân hàng trung ương Trung Quốc muốn duy trì tỷ giá NDT/USD hiện tại, nó phải bù đắp ảnh hưởng này bằng cách tăng lượng USD nắm giữ. Nỗ lực quốc tế hóa đồng NDT của Trung Quốc, bắt nguồn một phần từ tham vọng hạn chế rủi ro tổn thất của chính phủ đối với đồng USD, thực tế đã mang lại ảnh hưởng trái ngược, gây tăng lượng dự trữ USD vốn đã khổng lồ của ngân hàng trung ương.
Chưa hết trớ trêu, chính sách này còn đang chứng tỏ ngày càng tốn kém. Giả sử Trung Quốc một ngày nào đó sẽ ngừng duy trì giá trị thấp của đồng nội tệ, ngân hàng trung ương Trung Quốc cuối cùng sẽ phải chịu một tổn thất danh mục đầu tư khi đồng USD giảm về mức tỷ giá tự nhiên so với đồng NDT. Ngân hàng này càng tích lũy nhiều đồng USD, tổn thất cuối cùng sẽ càng lớn. Hơn nữa, khi ngân hàng trung ương mua thêm USD, họ sẽ phải thanh toán bằng NDT. Để tránh lạm phát, việc mở rộng tiền tệ trên phải được bảo đảm bằng phát hành trái phiếu hay chấp nhận khoản dự trữ ngân hàng bắt buộc mà chính phủ chịu thanh toán lãi suất bằng, làm tăng chi phí đối với chính phủ Trung Quốc.
Thách thức từ quá trình bảo đảm này càng lớn hơn khi tiền trong các tài khoản bằng CNH tại các ngân hàng được sử dụng để mua trái phiếu CNH và sau đó nhà phát hành những trái phiếu này đưa số vốn đó trở về đại lục. Chừng nào thị trường Hồng Kông còn tương đối nhỏ, Trung Quốc còn có thể hấp thụ hết các chi phí này một cách dễ dàng. Nhưng nếu chính quyền nghiêm túc với việc quốc tế hóa đồng NDT theo một cách bền vững, cái giá phải trả sẽ nhanh chóng tăng lên và những hậu quả ngoài mong đợi sẽ có thể trở nên khó kiểm soát hơn, đặc biệt khi thiếu các cải cách trong nước.
Rủi ro hay phần thưởng?
Căng thẳng trong chính sách tiền tệ của Trung Quốc xuất hiện nổi bật trong rất nhiều các tuyên bố chính thức nhằm giải thích cho chính sách đó. Một số nhà lãnh đạo công khai khẳng định ưu tiên đa dạng hóa và tách khỏi sự phụ thuộc vào đồng USD nhưng cần cẩn trọng và không đòi hỏi vị trí số một cho đồng NDT, thậm chí trong vài thập niên tới. Thay vào đó, họ dự đoán một quá trình thay đổi kéo dài và phức tạp trong hệ thống tiền tệ quốc tế, với nhu cầu tăng lên của đồng NDT sẽ chỉ giới hạn trong các thị trường Đông Á. Các nhà hoạch định chính sách khác của Bắc Kinh ủng hộ đưa NDT vào các đồng tiền SDR và tin rằng SDR nên loại bỏ hoàn toàn vị trí tài sản dự trữ chính trên thế giới của đồng USD.
Nhưng ngay cả khi họ thúc đẩy triển vọng về một trật tự tiền tệ thay đổi hoàn toàn, các quan chức này cũng tránh thừa nhận chính sách quốc tế hóa đồng nội tệ, thay vào đó nói về một chương trình thương mại và xúc tiến đầu tư hạn chế hơn. Họ nói rằng chính sách của họ là một sự phản ứng trước nhu cầu thị trường; bằng cách cho phép đồng NDT được sử dụng trong các giao dịch thương mại, những quan chức này xác nhận, Trung Quốc chỉ đơn thần đang đáp ứng các yêu cầu từ nhà nhập khẩu và xuất khẩu. Trung Quốc đã hoàn thành hiệp định trao đổi tiền tệ với các ngân hàng trung ương nước ngoài chỉ vì người nước ngoài yêu cầu họ như vậy - mặc dù thực tế người nước ngoài chỉ chiếm một phần nhỏ trong các giao dịch trao đổi đồng NDT mà Bắc Kinh cung cấp.
Tuy nhiên, mặc dù các nhà lãnh đạo Trung Quốc cố gắng hợp lý hóa một chính sách mâu thuẫn, sẽ không đúng khi kết luận quốc tế hóa NDT là điều ắt phải đến. Trung Quốc đã quản lý tốt những mâu thuẫn như thế trước đây, thường theo đuổi cải cách không thông qua giải quyết tình trạng mâu thuẫn, mà bằng cách cho phép một lựa chọn khác phát triển quanh nó.
Đơn cử, những năm 1980, trong giai đoạn chuyển đổi đầu tiên từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, nông dân vẫn bị yêu cầu phải đáp ứng hạn ngạch từ thời Mao Trạch Đông và được trả bằng các mức giá do các nhà hoạch định trung ương quy định, nhưng nông dân cũng được phép bán bất cứ thứ gì họ sản xuất vượt quá định mức trên thị trường tự do mới này. Ngày nay, các công ty tư nhân song hành tồn tại với các doanh nghiệp nhà nước và các kế hoạch năm năm tồn tại đồng thời với kiểu tự do cho tất cả của chủ nghĩa Tư bản. Theo phong cách tương tự, Trung Quốc đang cho phép thị trường vốn NDT tự do phát triển tại Hồng Kông bên cạnh thị trường vốn hạn chế, ít cải tổ ở đại lục. Sự kết hợp chính sách này có thể không thống nhất, nhưng cuối cùng nó lại hóa ra thành công.
Thực tế, sự thiếu thống nhất đôi khi lại có ưu điểm. Nó cho phép Trung Quốc thử nghiệm thay đổi trong khi vẫn có trong tay lựa chọn rút lại nếu hiệu ứng phụ vượt quá khả năng chịu đựng. Nó có thể cho phép các nhà hoạch định chính sách thúc đẩy phát triển thị trường Hồng Kông, qua đó các thể chế cần thiết cho việc đảm bảo thị trường tiền tệ hoạt động có thể dần hình thành ở đây.
Nếu các công ty Trung Quốc và nước ngoài sử dùng nhiều trái phiếu CNH hơn trong ngắn hạn và dài hạn, đường cong lợi tức do thị trường quyết định sẽ xuất hiện, các nhà kinh doanh Trung Quốc sẽ học được nghệ thuật kinh doanh chênh lệch lãi suất, và các công ty Trung Quốc sử dụng thị trường này sẽ học được cách quản lý tài chính. Hệ thống này có thể được điều chỉnh và thử nghiệm trước khi đưa vào đại lục, và thế nữa, nó có thể tạo ra những tín hiệu giá cả hữu ích cho chính phủ Trung Quốc. Nếu CNH tăng giá đột ngột so với đồng USD, điều này sẽ cảnh báo chính phủ về áp lực gia tăng xuất phát từ hoạt động đầu cơ. Lãi suất trong ngắn hạn tăng tương đối so với lãi suất dài hạn, điều này có thể báo hiệu các nhà đầu tư đã trở nên bi quan về triển vọng kinh tế. Theo thời gian, thị trường đại lục và trên đảo có thể đồng nhất khi quản lý vốn được nới lỏng.
Đương nhiên, có một rủi ro lớn mà cách tiếp cận từng bước - và hệ quả sức ép giữa thị trường tự do trên đảo và thị trường kiểm soát trên đại lục - có thể gây khó quản lý cho chính phủ. Giá đồng USD chính phủ mua để bù lại số NDT của người nước ngoài ở Hồng Kông nắm giữ tăng cao có thể khuyến khích các nhà đầu cơ nước ngoài đặt cược vào khả năng ngân hàng trung ương sẽ tìm cách hạ thấp chi phí đó bằng cách cho phép đồng NDT lên giá nhanh hơn; kết quả thậm chí dẫn đến hoạt động mua bán đầu cơ đồng CNH mạnh mẽ hơn, làm xuất hiện một vòng tròn luẩn quẩn.
Tương tự, rò rỉ vốn từ Hồng Kông vào đại lục có thể thổi bùng lạm phát; như nhà kinh tế học Robert McCauley đã giải thích, số phận này từng xảy đến tại Mỹ khi nước này kiên định kiểm soát vốn để chống lại sự mở rộng thị trường USD bên ngoài trong những năm 1970. Nhưng cũng có thể, lợi ích từ phương thức thử nghiệm của Trung Quốc có thể bù đắp các chi phí và mâu thuẫn hiển nhiên đó. Trung Quốc đã đạt được thành tích kinh tế tuyệt vời trong khi bỏ qua nhiều kinh nghiệm phát triển thuộc lòng của phương Tây. Nhưng ngay cả khi chính sách từ từ của Trung Quốc trong quan hệ tới tiền tệ tiếp tục được duy trì, đồng NDT sẽ không thể thay thế đồng USD trong thời gian sớm. USD đã được hưởng lợi thế mà đồng tiền trước đó, đồng bảng Anh, không có:  thị trường vốn cực sâu ở cả trong và ngoài nước Mỹ, hoạt động chủ yếu bằng đồng USD.
Mục đích hàng đầu của một tiền tệ dự trữ trong nền kinh tế toàn cầu hiện nay vượt xa hơn các mục đích truyền thống. Ngân hàng trung ương nắm giữ "quỹ" ngoại hối không chỉ để đảm bảo khả năng nhập khẩu các hàng hóa thiết yếu và thanh toán nợ; mà còn như một sự bảo hiểm chống lại cuộc khủng hoảng nguy hiểm mà tài chính hiện đại dễ mắc phải. Khi thị trường vốn mở rộng ra toàn cầu, các ngân hàng trên toàn thế giới đã vay mượn trên thị trường USD hiệu quả. Kết quả, khi thị trường đột ngột cạn vốn, người vay chỉ còn biết khóc rức vì USD. Chừng nào vốn bằng đồng USD còn hấp dẫn với các công ty tư nhân, các ngân hàng trung ương còn nắm giữ một lượng lớn dự trữ của mình bằng đồng USD. Ngay cả khi đồng USD mất giá liên tục, các ngân hàng trung ương có thể sẽ sẵn sàng chấp nhận chi phí đó, coi như một khoản phí bảo hiểm.
Xét về sức mạnh kinh tế của Trung Quốc và khả năng tăng giá đồng NDT trong tương lai, NDT có thể cuối cùng sẽ trở thành đồng tiền dự trữ thứ cấp. Nếu thị trường trái phiếu NDT đáng tin cậy phát triển, đầu tiên ở Hồng Kông và sau đó ở đại lục, người nước ngoài sẽ ngày càng đưa tài sản bằng NDT vào danh mục đầu tư của mình, cùng với đồng bảng Anh, euro, franc Thụy Sĩ, và yen Nhật. Các quốc gia châu Á, với các liên kết kinh tế sâu sắc với Trung Quốc, sẽ đặc biệt có khả năng làm như vậy; NDT vốn đã là đồng tiền neo giá không chính thức đối với một số đồng tiền của các nước này. Nhưng NDT còn lâu mới có thể thay thế đồng USD. Trung Quốc nhanh chóng bắt kịp Mỹ về quy mô tổng thể nền kinh tế, và có thể về nhiều khía cạnh khác nữa. Nhưng đồng tiền của Trung Quốc sẽ không thể chiếm vị trí thống trị. Hoặc nếu điều đó có xảy đến, cũng phải rất lâu nữa.

Phát ngôn Tuần Việt Nam: Sự hư hỏng!


Bỗng nhớ tới câu của ai đó từng biện bạch: Đừng nhìn vào một vài cái cây, sẽ không thấy cả cánh rừng. Nhưng niềm tin của người dân về cánh rừng sẽ ra sao đây, nếu như xung quanh mình, thấy không ít những cái cây đã bị sâu đục như Nguyễn Thanh Lèo, Trần Văn Tân... và còn biết bao cái cây đã lộ và chưa bị lộ, trước đó và sau này...
Ai thua lỗ?
Có một vụ việc cách nay hơn tuần, của hai quan chức, cấp "vừa trung vừa gian", ở một tỉnh nghèo- Sóc Trăng, làm tên tuổi họ bỗng nổi như cồn khắp thiên hạ. Phát ngôn Tuần Việt Nam cuối tuần này, xin được lấy làm chủ đề bàn luận, với tên gọi đích danh: Sự hư hỏng!
Đó là vụ đánh cờ tướng của ông Nguyễn Thanh Lèo (Phó Giám đốc Sở Giao thông Vận tải Sóc Trăng), với ông Trần Văn Tân, (Giám đốc Trung tâm sát hạch và cấp giấy phép lái xe hạng 3- thuộc Trường trung cấp Nghề khu vực ĐBSCL).
Hai "kỳ thủ" nổi tiếng bất đắc dĩ này được biết đến chẳng phải vì tài cờ cao thấp, mà là ở... tiền cược cao thấp. Mỗi ván thắng thua, trị giá từ 1-5 tỷ đồng. Một giá tiền thoạt đầu, ai cũng tưởng mình nghe nhầm.
Đánh thế nào mà ông Lèo nợ ôngTân tới 22 tỷ đồng, và mới trả nợ được 5 tỷ. Khi không có cơ trả nợ nổi, ông Lèo bị ông Tân thuê hai cha con Nguyễn Thanh Hùng (Hùng "cải lương") và con ruột là Nguyễn Thanh Truyền (đều ngụ tại Sóc Trăng) đến xiết nợ, đe dọa tính mạng cả gia đình. Cùng đường hoảng quá, Lèo phải tự thú với cơ quan điều tra.
Cách hành xử của hai kẻ, từ quan chức đến... giang hồ, chỉ cách nhau một... bàn cờ tướng. Chao ôi, thời kim tiền! Chẳng sự hư hỏng nào giống sự hư hỏng nào.
Đương nhiên, đến thời điểm này, cả bốn kẻ quan chức lẫn giang hồ đều chung nhau hình thức- tạm giam của cơ quan chức năng để suy nghĩ về "nước cờ" mới, hòng thoát tội như thế nào.
Mà họ từng là đôi bạn "công nông" cùng tiến đó. Cùng học hết lớp 9 bổ túc công nông, và rất nhanh, mỗi người một cách thăng tiến trên con đường hoạn lộ. Đương nhiên, tài năng thăng tiến của họ, chỉ họ và người cất nhắc họ tường tận nhất.
Còn phẩm cách họ, giờ mới là lúc bộc lộ "toàn phần"? Cũng chưa hết. Tại cơ quan điều tra, ông Lèo khai nhận ngoài ông Tân, ông Lèo còn nhiều lần đánh cờ cùng một cán bộ cấp phó của cơ quan trực thuộc Thành ủy Sóc Trăng.
Người viết bài tự hỏi: Trong xã hội này, có bao nhiêu trường hợp như ông Lèo, ông Tân? Và sẽ còn bao nhiêu vụ quan chức "cháy túi ra...con bạc" đây? Câu trả lời chắc chắn- không hiếm!
Vì nói đâu xa, vụ PMU 18 ầm ĩ và tai tiếng. Vụ một lãnh đạo Viện KSND Quảng Bình đánh bài ăn tiền. Rồi vụ một Phó Cục trưởng Cục thuế Hà Tĩnh đánh bạc với mấy lãnh đạo doanh nghiệp tại một khách sạn, bị bắt quả tang.... Cứ thỉnh thoảng, nhân dân lại nghe chuyện các quan chức đánh bạc bị bắt, hệt chuyện thường ngày ở huyện.
Cả xã hội sửng sốt. Vì sao, chỉ là cỡ quan chức nhỏ, không biết hai ông này thu nhập từ đâu để có thể đặt cược một khoản tiền bằng 10 đến 50 năm thu nhập (không ăn uống, chi tiêu) của một công nhân cầu đường bậc cao (8 triệu đồng/tháng) chỉ để vào cuộc đỏ đen?
Nghĩ cho kỹ, nếu là tiền túi, tiền do mồ hôi lao động một nắng hai sương tự kiếm ra, chắc chắn hai ông Lèo và Tân, chả đời nào dám vung như thế vì đồng tiền liền khúc ruột. Chỉ có là tiền thiên hạ...
Đến nỗi ông Trần Trinh Đức, con trai công tử Bạc Liêu Trần Trinh Huy (tay chơi nổi tiếng ở Sài Gòn và miền Nam những năm 1930, 1940 trước đây, người đã "đưa" cụm công tử Bạc Liêu trở thành một thành ngữ, một khái niệm về sự ăn chơi), hiện đang sống tại Bạc Liêu, cũng phải lắc đầu:
Cha tôi thời ấy cũng chỉ chơi một canh bạc 30.000 đồng mà thôi (tương đương 1,8 tỉ đồng tính theo giá lúa bây giờ). Chơi đến chừng ấy, chắc cha tôi cũng xin chào thua!
Không chỉ công tử Bạc Liêu chào thua. Nhân dân cũng xin .... chào thua hai ông!
Người ta bỗng nhớ đến câu chuyện nước Anh: Khi lấy Hoàng tử William làm chồng (tháng 4-2011) theo quy định của Hoàng gia, cô Kate Middleton không được làm 10 điều người dân thường có quyền làm. Trong đó, không được chơi Monopoly, cờ tỷ phú, một trò chơi kiểm tra trí tuệ vui vẻ nhưng có ăn tiền. Vì điều đó, sẽ làm mất đi sự trang nghiêm cao quý.
Đến xã hội tư bản, còn nghiêm cấm giới quý tộc Hoàng gia chơi cờ ăn tiền, ảnh hưởng đến hình ảnh phẩm cách nữa là... Phẩm cách ở đây chính là uy tín.
Rất vô tình, giữa lúc đó, cũng có một câu chuyện về tiền tỷ của hai người dân nghèo ở thị trấn Bến Lức (H. Bến Lức, Long An). Một người đàn bà bán vé số, và một người đàn ông chạy xe ba gác 25 năm, là khách hàng. Cả hai đều hy vọng kiếm tiền. Nghèo quá, đến tờ vé số, người đàn ông cũng phải mua chịu.
Thế nhưng, như cổ tích, chiếc vé số mua chịu lại trúng giải 6,6 tỷ, một số tiền cả đời người đàn bà bán vé số kia nằm mơ cũng không thấy. Vậy nhưng, chị vẫn gọi và trả lại cho người mua chịu. Rốt cục, một câu chuyện có hậu và ấm áp cho hai người trong cuộc, cho những người thân của họ. Và ấm áp cho xã hội, những ai được biết. Vì chữ phẩm hạnh làm người vẫn còn giá trị của nó.
Đặt hai câu chuyện "đánh cờ" của quan và dân cạnh nhau, người ta nhận ra, sự đối cực của hư hỏng và tử tế, của tham vọng và thiện lương, của tha hóa và nhân cách con người.
Có rất nhiều lời bình trên báo chí về vụ quan chức kiêm .... con bạc này. Nhưng người viết bài chú ý tới trả lời báo Nguoiduatin.vn (31/12/2011)của ông Nguyễn Đình Hương, nguyên Phó Ban Tổ chức Trung ương: Còn cơ chế xin- cho, còn "quan sâu" bạc tiền tỷ.
Trái với sự bàng hoàng của người dân, là người từng có chức trách và đầy kinh nghiệm về công tác cán bộ, ông Nguyễn Đình Hương thẳng thắn:
Tôi không sốc.... Ông Lèo không phải là hiện tượng cá biệt. Những người như thế này khá nhiều, chỉ là lộ và chưa lộ mà thôi. Còn cơ chế xin - cho, cơ chế độc quyền, quản lý không ai chịu trách nhiệm thì còn những con sâu như thế này.
....5 tỷ chứ 10 tỷ tôi cũng không bất ngờ. Bởi với tình trạng tham nhũng như hiện nay, người ta có thể chơi ván cờ lớn như vậy là chuyện bình thường....Tiền đó không có cách hiểu nào khác là tiền tham nhũng, tiền ăn cắp của nhân dân.
Ông Nguyễn Đình Hương chỉ băn khoăn: Cấp quản lý của các ông ấy ở đâu khi để tồn tại một cán bộ thoái hóa như thế này? Tổ chức Đảng ở đâu? ...Những ông đó là do Tỉnh uỷ quản lý, Ban Tổ chức Tỉnh uỷ, Chủ tịch tỉnh, Giám đốc Sở quản lý, vậy mà tại sao không biết gì?!
Một câu hỏi, không biết có quan chức nào ở Sóc Trăng có thể trả lời được không?
"Hậu thế" của ngành giao thông, quả không chịu kém các bậc "tiền nhân PMU 18". Nhưng cho dù có "nợ" nhau hay "thắng" nhau tới 22 tỷ, xét cho cùng, hai con bạc Nguyễn Thanh Lèo, và Trần Văn Tân, không ai thắng, cũng chẳng ai thua, vì tiền cá cược đâu phải tiền của họ?
Chỉ có nhân dân cuối cùng là ...thua lỗ. Khi buộc phải đặt niềm tin không đúng chỗ vào sự hư hỏng nhân danh...cán bộ.
Và ai thua thiệt?
Rất ngẫu nhiên, vào những ngày xảy ra vụ việc cờ bạc của hai quan chức Lèo và Tân, có một sự kiện, ngay lập tức được hàng loạt báo đưa tin, với những cái tít bài khá sốc: Chỉnh đốn Đảng vì sự tồn vong của chế độ; Đẩy lùi sự suy thoái trong Đảng; Góp ý xây dựng, chỉnh đốn Đảng...
Đó là sự thừa nhận thẳng thắn của người lãnh đạo cao cấp nhất trong Đảng- Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, tại Hội nghị TƯ 4, ngày 26/12/2011, về mối nguy hiểm của tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp.
Người viết bài bỗng nhớ tới câu của ai đó từng biện bạch: Đừng nhìn vào một vài cái cây, sẽ không thấy cả cánh rừng. Nhưng niềm tin của người dân về cánh rừng sẽ ra sao đây, nếu như xung quanh mình, thấy không ít những cái cây đã bị sâu đục như Nguyễn Thanh Lèo, Trần Văn Tân... và còn biết bao cái cây đã lộ và chưa bị lộ, trước đó và sau này...
Trong nhiều nguyên nhân TBT đã chỉ ra, đó là một nguyên nhân rất căn cốt.
Nói cho công bằng, hơn 20 năm đổi mới, xã hội chúng ta đã rất nhiều lần phát động các cuộc vận động: "Sống, học tập và làm việc theo gương Bác Hồ vĩ đại". Rồi: "Sống, học tập và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật".
Thế nhưng cho đến giờ, tham nhũng vẫn là quốc nạn, chưa thể đẩy lùi. Mà muốn tham nhũng, ít nhất phải có chức quyền, có vị thế. Và hiện tượng quan chức, cán bộ, đảng viên suy thoái đang trở thành một tình trạng.
Vậy nên, mọi biện pháp vận động, phát động phong trào, nếu thiếu giải pháp, thì dễ nói hay, làm dở, thiếu hiệu quả.
Điều khiến nhiều người đọc quan tâm còn là câu chuyện của TBT kể về Bác Hồ trong phiên bế mạc Hội nghị TƯ4.
Có lần Bác Hồ nói: "Tôi làm điều xấu, các đồng chí trông thấy phải phê bình cho tôi sửa chữa ngay. Nếu tôi có vết nhọ trên trán, các đồng chí trông thấy lại lấy cớ "nể Cụ" không nói là tôi mang nhọ mãi. Nhọ ở trên trán thì không quan trọng nhưng nếu có vết nhọ ở trong óc, trong tinh thần mà không nói cho người ta sửa là hại người ta".
Câu nói về sự phê bình của Bác Hồ rất giản dị và thấm thía.
Nhưng câu tổng kết của dân gian, của cuộc đời cũng lại giản dị, thấm thía và đắng cay hơn: "Đấu tranh, tránh đâu?", "Thuốc đắng dã tật, sự thật mất lòng". Chỉ vì sợ cái sự tránh đâu, có không ít con người không dám chỉ ra vết nhọ trên trán, vêt nhọ trong óc, trong tinh thần đảng viên, vì người ta rất sợ cái vết nhọ định kiến. Điều đó còn có hại hơn.
Chỉnh đốn Đảng bằng cách nào?
Nếu thiếu một cơ chế quản lý minh bạch, công khai và công bằng.
Nếu không triệt phá được cái triết lý sống và ứng xử: Cái gì không mua được bằng tiền, sẽ mua được bằng rất nhiều tiền đang ngấm ngầm, nhưng lại ngông nghênh phổ biến trong xã hội. Chính triết lý này đã dẫm đạp lên tất thảy mọi giá trị.
Nếu thiếu một tư duy trẻ, mềm dẻo, trong lãnh đạo và chỉ đạo, biết đặt lợi ích dân tộc lên trên hết?
Nếu như những người đảng viên không phải là những người tiên phong chống lợi ích cá nhân, lợi ích gia đình, lợi ích nhóm... Nếu những người đảng viên làm việc gì cũng bị đụng đến lợi ích nhóm, lợi ích cá nhân, lợi ích gia đình thì không thể giải quyết nổi, như phát biểu của ông Lê Hiếu Đằng (nguyên Phó Chủ tịch Ủy ban MTTQ TPHCM)
Thì trên con đường phát triển để hội nhập, dân tộc sẽ tụt hậu. Chỉ dân tộc là thua thiệt!
            Tác giả: KỲ DUYÊN, Nguồn: Tuần Vietnam.net, ngày 06/01/2012

Chủ Nhật, 8 tháng 1, 2012

Nguyên Tổng bí thư Lê Khả Phiêu nói về vấn đề xây dựng Đảng


       Dứt khoát phải làm bằng được
         TT- Thời ông làm tổng bí thư đã có NQ TƯ 6 lần 2 về một số vấn đề cơ bản và cấp bách trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Với tư cách “người trong cuộc”, nguyên tổng bí thư Lê Khả Phiêu nhìn nhận vấn đề này như thế nào?
          Ngày 29-12, trả lời Tuổi Trẻ, ông nói:

          
          - Tôi cho rằng hội nghị trung ương lần này bàn về một số vấn đề cấp bách trong xây dựng Đảng là rất đúng. Trước khi khai mạc hội nghị, Bộ Chính trị có thành lập ban chỉ đạo xây dựng đề án về vấn đề xây dựng Đảng. Đề án nói phải làm ngay, làm nhanh và làm có hiệu quả, rồi tổ chức đi lấy ý kiến các nơi, các thế hệ lãnh đạo... Tôi được biết đã có nhiều ý kiến phát biểu rất tâm huyết và sâu sắc, đề cập những vấn đề bức bách nhất hiện nay của Đảng ta, kể cả những thành tựu vĩ đại cũng như cái đang hư hỏng, cần phải sửa, cần khắc phục.
         Bệnh nặng nhất là chủ nghĩa cá nhân
        * Thưa ông, tại sao “cấp bách” lặp lại như thế?
       - Cấp bách ở đây không nên hiểu là chỉ có mỗi vấn đề bên trong, vấn đề nội tại mà phải đặt trong bối cảnh tình hình thế giới và trong nước. Đồng thời phải thấy được chính bản thân mình đang có bệnh. Xây dựng Đảng là việc thường xuyên, chúng ta có uống thuốc, có chữa bệnh, có tiến lên nhưng chưa giải quyết triệt nọc. Bệnh nặng nhất là chủ nghĩa cá nhân, nếu không diệt được thì đừng hòng đẩy lùi được.
        * Bối cảnh cấp bách của nghị quyết lần này có gì khác với nghị quyết trung ương 6 lần 2?
       - Hội nghị trung ương 5 (khóa VIII) bàn về văn hóa đã nói về tiêu cực, rồi về bắt đầu tiến hành phê bình và tự phê bình nhưng thấy nó không “ăn”. Cũng mới là phê bình hình thức, ông này nóng tính, ông kia thế này thế khác... không đi thẳng vào vấn đề, không dám đi vào những vấn đề như anh hư hỏng, lộng quyền, xa dân. Cho nên, đến Hội nghị trung ương 6 lần 2 bàn trực tiếp, mở ra vấn đề thấy không khí ủng hộ trong toàn Đảng, toàn dân rất phấn khởi, ta làm một bước có kết quả chứ không phải không.
         * Tức là kết quả chưa đạt như mong muốn?
         - Chúng ta làm chưa triệt để do chủ nghĩa cá nhân chi phối khá nặng nề trong mỗi người, kể cả cấp cao.        Chúng ta chưa đặt được vấn đề là mỗi cán bộ, đảng viên phải tự soi mình, xem có luôn giữ được trong sạch không, đặc biệt là các ông ở trên.
        * Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng có nói là “vũng bùn của chủ nghĩa cá nhân ích kỷ tệ hại”. Làm sao để tránh được vũng bùn đó, thưa ông?
        - Khi có chức vụ, khi đã là người đảng viên cộng sản thì anh phải tự mình và đồng thời giúp đồng chí mình sửa chữa khuyết điểm, giúp tổ chức xây dựng cho tốt, đặc biệt là cấp cao ở trung ương và Bộ Chính trị. Bản thân anh phải xem lại có vướng vào cái (vũng bùn) đó không, nhưng nếu chỉ có thế không cũng không đủ mà phải có cơ chế giám sát, ở đây là chức năng của Ủy ban Kiểm tra trung ương.
         * Trong đó phải nâng địa vị pháp lý của Ủy ban Kiểm tra với quyền và trách nhiệm cao hơn?
         - Tôi đã đề nghị Ủy ban Kiểm tra trung ương phải do đại hội bầu. Như vậy mới được.
           Ai giám sát hoạt động của trung ương? Ta nói quần chúng giám sát cũng là một phần thôi, nhưng Đảng giám sát như thế nào phải cụ thể hóa ra. Rồi vai trò của ủy ban kiểm tra các cấp, thực hiện chức năng giám sát như thế nào cả về mặt thực hiện đường lối và thực hiện hành vi của từng người. Ủy ban kiểm tra các cấp phải thật sự công minh, vô tư, trong sáng, có dũng khí và phải giữ nguyên tắc.
       * Như vậy theo ông, chủ nghĩa cá nhân chính là vấn đề cấp bách nhất phải giải quyết bằng được?
         - Phải giải quyết cho bằng được. Tất nhiên là giải quyết bằng các biện pháp sao cho có tình có lý với nhau để người ta hồi tỉnh và lấy lợi ích của cách mạng lên trên hết. Đảng ta đủ sức để phục vụ nhân dân, để đạt được lợi ích cao nhất của nhân dân.
          Tình trạng chạy chức chạy quyền, kém mà vẫn vào được các vị trí, người giỏi bị gạt ra, đó là cá nhân chủ nghĩa. Thời gian chuẩn bị Đại hội XI, có hôm 11g30 đêm một số anh còn đến nhà tôi, bấm máy lên để nghe thấy đang chạy như thế, nghĩa là hỏng chứ còn gì nữa, cái đó là nguy hiểm lắm.
          * Hồi đó ông chứng kiến trực tiếp việc chạy đó?
          - Có ông bí thư tỉnh ủy họp trung ương xong, gần nửa đêm trời lạnh vẫn mang máy đến bật lên cho tôi nghe ai nói thế nào. Tất nhiên không phải trực tiếp các ông ấy mà bộ phận khác chạy, các doanh nghiệp chạy cho.
         Chất vấn và lấy phiếu tín nhiệm
        * Thưa ông, cách đặt vấn đề tại hội nghị lần này gợi lại không khí và tinh thần của thời kỳ đầu đổi mới, đó là nhìn thẳng vào sự thật, là những việc cần làm ngay?
         - Chính là phải có tinh thần ấy, đã cấp bách phải có biện pháp cấp bách. Để giải quyết vấn đề cấp bách phải có không khí ấy mới được. Nó cũng như không khí chuẩn bị ra trận, tổ chức một chiến dịch như là tổng tiến công.
        * Theo ông, vấn đề xây dựng và chỉnh đốn Đảng bây giờ phải làm từ đâu?
        - Phải làm từ trên chứ không phải làm đồng loạt. Bộ Chính trị và trung ương làm trước, chia thành hai giai đoạn, một là trung ương làm nhưng trước hết là Bộ Chính trị tức là bộ tư lệnh tối cao, anh phải kiểm điểm các nội dung cho rõ. Ở đây là nói không phải để “đánh nhau” mà lấy lợi ích của dân tộc trên hết, và mục tiêu ta phải xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh. Làm tốt ở Bộ Chính trị rồi thì báo cáo trung ương, và trung ương cũng trên cơ sở như vậy, từng người trong trung ương phải tự phê bình, rồi thông báo làm đến cấp tỉnh cũng thế, làm xong rồi tổng hợp lại thông báo toàn Đảng và hạ quyết tâm sửa chữa.
        * Việc này cũng giống như chống tham nhũng, thường được ví như quét nhà: phải quét từ tầng thượng xuống và từ trong ra thì nhà mới sạch?
         - Hồi trước Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh nói là nhà dột từ nóc, bây giờ cái nhà không phải chỉ từ nóc mà dột nhiều chỗ khác nữa. Cho nên phải dành thời gian, nếu hiện nay chuẩn bị chưa kỹ hoặc chưa được nên lui lại sang năm làm. Tiếp đó chuẩn bị quy hoạch trung ương, đến khoảng năm 2013 thì trình nhân sự ra, Bộ Chính trị như thế nào, tổng bí thư là ai... Chuẩn bị một vài phương án. Thực hiện các công việc liên quan xong rồi đưa ra trong toàn Đảng và trong nội bộ thảo luận và chuẩn bị. Như vậy mới có kết quả, chứ nếu không như chuẩn bị nhân sự hồi Đại hội XI rất căng thẳng.
        * Cách làm như ông vừa đề cập tương tự hồi trung ương 6 lần 2, khi trong bài phát biểu bế mạc Hội nghị trung ương 6 lần 2 ông có nói một ý là “tự phê bình từ trên xuống, phê bình từ dưới lên”?
         - Đúng vậy, anh phải tự phê bình, còn ở dưới đưa cho họ phê bình anh và biết lắng nghe.
         * Lúc đó tổng bí thư và Bộ Chính trị đã tự phê bình như thế nào?
          - Có làm chứ, bọn mình tự phê bình và các anh có ý kiến rồi lấy ý kiến các cơ quan ở dưới nữa với tinh thần nói thẳng, mặt tốt biểu dương, mặt không tốt cũng phải nói ra để bọn mình hoàn thành nhiệm vụ, chứ không phải bọn mình ngại việc đó hay là trù dập gì đâu.
         * Nhưng nếu chỉ phê và tự phê thì không đủ, thưa ông?
         - Các kỳ đại hội Đảng toàn quốc gần đây đã đề ra rất nhiều biện pháp, tôi nghĩ không phải biện pháp sai đâu nhưng làm không đến nơi đến chốn, hoặc là không chịu làm, nói một đường làm một nẻo. Trong hội nghị không nói gì, nhưng ra ngoài lại nói, nghĩa là có vấn đề nội bộ. Rồi thấy cái sai lờ đi, thấy cái đúng không bảo vệ. Nếu kéo dài tình trạng đó thì nguy hiểm.
         Tôi cho rằng họp trung ương phải chất vấn cao hơn Quốc hội chất vấn. Lâu nay các đại biểu Quốc hội chất vấn ở hội trường thì trung ương đã làm được chưa? Tại sao không làm được? Nói phát huy dân chủ trong Đảng, tại sao không để trung ương chất vấn từ tổng bí thư trở xuống. Bên cạnh đó, hằng năm có thể lấy phiếu tín nhiệm lại từ tổng bí thư đến ủy viên trung ương. Làm tốt thì nói tốt, làm không tốt thì để người khác thay. Như vậy mới đạt được nói và làm. Dân chủ phải thể hiện ra được bằng cơ chế mà không có sợ ai cả. Sợ ở đây chẳng qua là sợ cái ghế, muốn giữ cái ghế đó, chứ nếu muốn vì đất nước thì anh có mất đầu cũng không sợ.
         Tôi đề nghị trung ương phải có kế hoạch cụ thể, trước hết Bộ Chính trị phải làm gương và bản thân mỗi đảng viên cũng vậy. Mới đây tôi gặp Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng nói rằng chúng tôi có trách nhiệm trong vấn đề xây dựng Đảng, trước đây làm chưa triệt để, lần này dứt khoát phải làm bằng được, làm đến nơi đến chốn và kế hoạch phải thật cụ thể.
          Nguồn: Báo Tuổi trẻ ĐÀ TRANG - VÕ VĂN THÀNH thực hiện

Thứ Ba, 27 tháng 12, 2011

Bệnh tùy tiện


Nguồn Báo Hà Nội mới, ngày 19/12/2011.
(HNM) - Tháng vừa rồi không biết thế nào mà rộ lên chuyện cháy. Cháy cao ốc, cháy xe giữa đường, cháy bình gas, mà nào phải chỉ cháy một điểm kinh doanh gas hay một chiếc xe cho cam.
Lắng nghe từ hướng khác cũng thấy có chuyện không vui. Giá vàng nhảy múa như điên giờ ra chiều đủng đỉnh hạ, dù giá vàng thế giới rớt mạnh. Tết đã ở trước mặt, đâu đó phía Nam vội rục rịch tăng giá vé vận chuyển hành khách, như thể đến hẹn là... phải tăng. Ra chợ về, các bà các mẹ bắt đầu phàn nàn "giá thực phẩm lên rồi". Cơ sự này, cái sự tùy tiện, thích tăng giá là tăng ắt hẳn gây khó cho chủ trương bình ổn giá của Nhà nước.
Nhìn sang lĩnh vực văn hóa, chưa kịp vui vì nghe đâu một vài phim "bom tấn" của nền điện ảnh thế giới ra mắt khán giả Việt Nam sớm hơn mấy ngày so với nhiều nước giàu có hơn mình, đã nghe người từ trong thành phố Tuy Hòa nói Liên hoan phim Việt Nam lần thứ 17 đang đà sôi nổi, đông người xem lắm, chỉ có điều một số thầy, cô giáo thế nào lại dẫn trẻ đi xem "phim hơn tuổi". Con trẻ đỏ mặt trước cảnh "nóng", đứa yếu bóng vía rú lên vì sợ trong lúc nhà tổ chức có thể xoa tay vì "thành tích" lấp đầy rạp chiếu. 
Ngoài Hà Nội, ngóng mỏi cổ chưa thấy "kết luận cuối cùng" của cơ quan quản lý văn hóa nghệ thuật cấp cao nhất về văn bản giải trình của Cục Nghệ thuật biểu diễn vì đã cấp phép cho liveshow Chế Linh dù trước đó Sở VH,TT&DL Hà Nội đã từ chối tiếp nhận giấy phép tổ chức biểu diễn liveshow này. Nói "ngóng mỏi cổ" là vì người phát ngôn của Bộ VH,TT&DL từng cam đoan sẽ có nhời trước công luận về việc này. Vậy mà bao ngày đã trôi qua, người quan tâm chưa hết tò mò xem giữa hai cách hành xử trái ngược nhau đối với cùng một vụ việc của Cục Nghệ thuật biểu diễn và Sở VH,TT&DL TP Hồ Chí Minh (nơi quyết liệt từ chối tiếp nhận liveshow Chế Linh và giám sát đến cùng để không cho biểu diễn), quyết định nào là đúng, phía nào là sai. Đến giờ, sự im ắng cũng cho thấy cái sự tùy tiện như cách ra quyết định của cơ quan chức năng...
Tai nạn, hỏa hoạn cũng có khi vì nguyên nhân khách quan, nhưng những điều đáng tiếc xảy ra trong thời gian qua chủ yếu là do sự bất cẩn của người mình cả. Chuyện của ngành văn hóa, ngẫm ra cũng là do người chủ trì từng việc không nhất quán, không kiên quyết với định chế đã được ban hành, mỗi nơi "vận dụng" một kiểu nên mới ra sự tréo ngoe đến thế. Nhiều chuyện dở đã xảy ra, đằng sau đó ta vẫn thấy, vẫn được nghe kết luận nguyên nhân, thể nào cũng có ý tứ về sự chủ quan, coi thường nội quy, nguyên tắc, coi thường luật pháp. Luật Phòng cháy, chữa cháy có rồi, sao ban quản lý chung cư vì doanh thu vẫn cho ô tô đỗ dàn hàng trên đường nội bộ, xảy ra cháy, lấy đâu đường cho xe cứu hỏa vào? Luật về giao thông cũng đã có rồi, sao ra đường vẫn có nhiều người lấn đường, lấn tuyến, vượt ẩu để xảy ra thảm cảnh? Tại sao quanh ta vẫn còn quá nhiều câu hỏi lớn, như thể tại sao "quản lý rừng đặc dụng mỗi nơi một kiểu", tại sao "giám sát ô nhiễm nước thải, mỗi nơi mỗi cách"; rồi là sự khác về cách thức vận hành trong triển khai chủ trương cải cách hành chính ở một số địa phương, là cách thu phí đầu năm loạn xạ giữa các trường...
Lề lối ứng xử do con người định ra, theo một tiến trình từ đơn giản đến hoàn thiện, bao quát đời sống và hành vi. Xã hội Việt Nam từ lâu đã vận hành theo luật, nên chuyện nhỏ, chuyện to hầu như là hậu quả từ cách hành xử tùy tiện, vượt ra ngoài khuôn khổ luật pháp, quy tắc. Tự thấy đã đến lúc không thể chỉ đổ cho mặt hạn chế của nền văn minh lúa nước được nữa. 
Vẫn thấy truyền thông viện dẫn "trình độ dân trí" khi tìm nguyên nhân của một việc nào đó, thành công hay thất bại, đặc biệt là khi nói về lối sống, nếp sống. Hiểu theo nghĩa rộng, dân trí là sự hiểu biết về mọi mặt tự nhiên, xã hội của người dân, dân trí cao thì xã hội được hưởng lợi, phát triển theo hướng văn minh, hiện đại, giảm thiểu những hệ lụy do kém hiểu biết. Dân trí thấp dẫn đến sự tụt hậu. Ở Việt Nam, chưa thấy có nghiên cứu cơ bản về vấn đề dân trí ở tầm tổng quát, mới chỉ thấy những chỉ báo được đưa ra khá rời rạc mà khi liên kết lại, ta rất khó nhận chân vấn đề. Tuy thế, trong một xã hội hiện đại, yếu tố quan trọng bậc nhất để xác định dân trí cao hay thấp là ý thức tuân thủ, sống và làm việc theo luật pháp. J.Sieyès, chính khách Pháp cuối thế kỷ XVIII, định nghĩa rằng, "quốc gia là một tập thể người liên kết sống theo cùng một luật pháp và đạt được đại diện bởi cùng một cơ quan lập pháp". Như thế, những cá nhân rời rạc, không có mối liên kết chung và không tôn trọng mối liên kết ấy, tập hợp lại không thể tạo ra một quốc gia mạnh được. Xét trên tiêu chí này, dựa vào những hiện tượng chưa đầy đủ đã dẫn trên, dù dễ dàng nhận ra trình độ dân trí đã được nâng lên đáng kể trong thời gian qua thì có lẽ nhiều người trong số chúng ta vẫn cần phải khiêm tốn tự nhìn lại mình một cách nghiêm túc. 
Gần đây thấy nói nhiều hơn về "quan trí", tức trình độ hiểu biết mọi mặt của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong các cơ quan nhà nước và những người quản lý hệ thống đó. Theo nguyên tắc của chế độ ta, cán bộ là công bộc của dân. Vì vậy nói về trình độ hiểu biết của cán bộ mà gọi là "quan trí" chưa hẳn đã đúng hoàn toàn, nhưng cứ tạm gọi như vậy. Dù nội hàm của hai khái niệm dân trí và "quan trí" là đồng nhất, nhưng với vị trí quan trọng của đội ngũ cán bộ, ở vị thế góp phần trực tiếp tạo ra các giá trị xã hội, mức độ ảnh hưởng từ "quan trí" thường là lớn hơn. Trong thực tế, ta vẫn nghe chuyện lĩnh vực này, địa phương kia có sự bất cập, ấy là do trình độ tổ chức thực hiện nhiệm vụ của cán bộ ở đó chưa xứng với nhiệm vụ được giao, hoặc giả là đầy đủ trình độ nhưng cố ý làm sai chủ trương, định hướng, vì lợi ích cá nhân hoặc lợi ích nhóm. Không thiếu cán bộ, viên chức do hiểu biết hạn chế nên hiến kế sai. Nhưng cũng không hiếm cán bộ công quyền lạm dụng chức vụ, quyền hạn để mưu lợi riêng, làm thiệt hại cho xã hội. "Quan trí" thấp ở một bộ phận cán bộ dẫn đến hệ lụy khó lường, sự tùy tiện của cán bộ có thể gây ảnh hưởng xấu ở tầm rộng hơn dân thường, thậm chí kéo theo diễn biến phức tạp khác. Kẻ lừa đảo giỏi cũng chỉ được trăm tỷ đồng, có thể làm khổ vài chục gia đình. Nhưng cán bộ có chức, có quyền cấu kết lại có thể tham ô, làm thất thoát hàng nghìn, hàng chục nghìn tỷ đồng, làm thất bại cả những dự án lớn và khiến hàng nghìn người điêu đứng. Một đại biểu Quốc hội giỏi, có trách nhiệm, thấm thía nguyện vọng của cử tri thì từng ý nói ra ở nghị trường đều có lợi cho cộng đồng, cho đất nước; ngược lại, người kém hiểu biết, không nắm vững vấn đề, "nổ" tùy tiện thì mọi sự tham mưu không có giá trị, thậm chí gây hại. Sự tùy tiện vượt khuôn khổ của cá nhân không thể là lối ứng xử văn minh. Nếu những quy định về an toàn cháy nổ được chấp hành nghiêm thì đâu có chuyện cả nhà lâm nạn vì nổ bình gas. Sự tùy hứng, không thực hiện đúng, đủ chức trách, nhiệm vụ được giao, không hoàn thành trách nhiệm kiểm tra, kiểm soát của cán bộ chức năng khiến cho dân cư ở nhiều cao ốc lo ngay ngáy, khiến tiểu thương, các doanh nghiệp thích tăng giá là tăng... 
Dân trí cao, "quan trí" cao là mong ước, là mục tiêu của bất cứ quốc gia nào. Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm nâng cao dân trí, đào tạo nhân tài, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ. Công tác ấy đòi hỏi một quy trình đầy đủ, bao gồm nhiều giải pháp hỗ trợ nhau suốt quá trình đào tạo - bồi dưỡng - sử dụng. Trong quy trình ấy cần nhất là thưởng - phạt phân minh, định rõ ngay - gian, có phép trị căn bệnh tùy tiện và thói khinh nhờn kỷ cương trong cơ quan công sở cũng như ngoài xã hội.
Huy Anh

"Quan" ở Sóc Trăng đánh cờ tướng mỗi ván 5 tỉ đồng


Nguồn: Báo Người Lao động, Chủ Nhật, 25/12/2011
(NLĐO)- Sáng ngày 24-12, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sóc Trăng tống đạt lệnh tạm giữ hình sự đối với ông Trần Văn Tân, Giám đốc Trung tâm Đào tạo lái xe hạng 3 tỉnh Sóc Trăng để điều tra về hành vi đánh bạc. “Bạn cờ” của ông Tân là ông Nguyễn Thanh Lèo, Phó Giám đốc Sở Giao thông Vận tải tỉnh Sóc Trăng cũng bị tạm giữ hình sự cùng hành vi trên.
Cơ ngơi của ông Lèo được cho là xây dựng trên phần đất chiếm đoạt của dân
 Trước đó 2 ngày, ông Lèo đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sóc Trăng cầu cứu. Theo lời trình bày của ông Lèo thì ông đã bị ông Tân thuê “xã hội đen” đến nhà xiết nợ và dọa giết cả nhà  do trước đó ông thua độ đánh cờ tướng với ông Tân số tiền lên tới 22 tỉ đồng.
 Ông Lèo khai nhận đã nhiều lần đánh cờ tướng ăn tiền với ông Tân, có nhiều ván ăn thua lên tới 5 tỉ đồng. Trong những lần sát phạt đó, ông Lèo luôn là người thua cuộc và chỉ mới một lần chung tiền cho ông Tân 5 tỉ đồng.
 Theo kế hoạch, chiều 22-12, ông Lèo hẹn ông Tân đến một câu lạc bộ bida trên đường Phú Lợi (TP Sóc Trăng) để đấu một trận cờ tướng, ăn thua 5 tỉ đồng. Ông Tân liền lái xe SH đến nơi để đấu cờ tướng ăn tiền với ông Lèo. Khi hai người đang căng mắt “đấu” nhau thì công an xuất hiện, khám xét rồi đưa về trụ sở cơ quan điều tra.
Ông Tân sở hữu nhiều hàng quán lớn ở Sóc Trăng
 Theo nhiều người dân ở TP Sóc Trăng thì  ông Tân vốn là một đại gia có tiếng, luôn đi ôtô xịn có giá nhiều tỉ đồng. Ông còn sở hữu hàng loạt quán cà phê, quán ăn, karaoke lớn ở TP Sóc Trăng. Còn ông Lèo cũng sở hữu nhiều nhà đất và biệt thự sang trọng ở TP Sóc Trăng.
 Những năm gần đây, ông Lèo bị người dân thưa kiện vì chiếm đất của dân xây biệt thự ở nhưng không trả, mặc dù đã có quyết định cuối cùng của UBND tỉnh Sóc Trăng buộc ông Lèo phải trả lại đất cho dân.
                                                        Tin-ảnh: Duy Nhân

Thứ Hai, 21 tháng 11, 2011

Trọng dụng nhân tài cho phát triển đất nước


Nguồn: Tuần Việt Nam, Tác giả: VŨ QUỐC TUẤN 19/11/2011
Trong lịch sử giữ nước và dựng nước của dân tộc ta, nhân tài thời nào cũng có. Mỗi thời đại đều có nhân tài của thời ấy, đáp ứng đúng yêu cầu của thời đại đó; và nếu như thời đại sinh nhân tài, thì đến phần mình, nhân tài thúc đẩy đất nước sang một thời đại mới. Khi nhân tài được trọng dụng, thì đất nước giữ được bờ cõi, xã hội hưng thịnh, nhân dân ấm no, hạnh phúc. Trong công cuộc phát triển đất nước ngày nay, việc trọng dụng nhân tài lại càng có ý nghĩa quyết định.
Phát hiện nhân tài
Hiện nay, nhiệm vụ phát triển đất nước bền vững đang đòi hỏi phát huy hơn nữa tài năng, trí tuệ của toàn dân, trước hết là của đội ngũ nhân tài. Đồng thời, đây cũng là cơ hội cho nhân tài phát huy tài năng, cống hiến cho đất nước, dân tộc.
Như kinh nghiệm của các nền kinh tế thị trường, có ba lĩnh vực rất cần nhân tài, đó là những lĩnh vực có ý nghĩa quyết định sự phát triển của một đất nước. Đó là: (i) Lĩnh vực hoạch định chính sách; (ii) Lĩnh vực văn hóa, khoa học, công nghệ; (iii) Lĩnh vực sản xuất kinh doanh. Trong ba nhóm nhân tài trên đây, nhóm nhân tài trong lĩnh vực hoạch định chính sách giữ vị trí quan trọng nhất. Đó là vì những người trong nhóm này có nhiệm vụ quyết định đường lối, quan điểm, chiến lược phát triển đất nước; quyết định thể chế, chính sách, pháp luật, v.v... tức là họ có quyền quyết định những vấn đề hệ trọng liên quan đến sự thịnh hưng hoặc tụt hậu của đất nước. Nhóm người này nhất thiết phải là những nhân tài.
Do đó, khi chúng ta nói "phát hiện và trọng dụng nhân tài" là nói đến trách nhiệm của bộ phận lãnh đạo, trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị có chức năng quản lý nhà nước đối với nhân tài. Đó là trách nhiệm trước lịch sử, trách nhiệm đối với sự phát triển của dân tộc. Về phía các nhân tài, đất nước ta không thiếu, vì nhân tài nảy sinh trong lòng dân tộc, do sự phát triển tất yếu của xã hội trong mỗi thời đại.
Nhân tài thường có ý thức tự trọng, không màng danh lợi, họ không đợi cơ quan có trách nhiệm "phát hiện" họ; họ cũng không cần hạ mình để được "sử dụng" hoặc để được "tôn vinh". Người tài thường bộc trực, thẳng thắn, nói thẳng ý kiến của mình, có khi cứng rắn, không uốn éo phỉnh nịnh, lấy lòng cấp trên. Nhân tài rất tự hào khi được tin dùng, sẵn sàng cống hiến với người lãnh đạo có tâm, biết tôn trọng họ; lại rất khổ tâm khi phải đặt dưới quyền của người kém tài kém đức. Họ không thích những gì phù phiếm, hình thức, không thực chất. Khi không được sử dụng, họ sẵn sàng ra đi vì có nhiều cơ hội tìm những việc phù hợp, nơi môi trường thuận lợi, họ có thể cống hiến.
Trong thời đại ngày nay, "đất dụng võ" của nhân tài đang rất thênh thang, nhân tài có thể phát huy tài năng trong nhiều lĩnh vực, nhiều địa bàn, không chỉ trong khu vực nhà nước, mà còn là khu vực tư nhân đang ngày càng phát triển và có nhiều triển vọng. Hiện tượng nhân tài rời cơ quan nhà nước là rất đáng quan ngại, vì có thể dẫn đến tình trạng bộ máy nhà nước yếu kém, ảnh hưởng đến chất lượng của các thể chế, chính sách.
Trách nhiệm phát hiện nhân tài trước hết là ở các vị lãnh đạo. Thực tế cho thấy việc này không thể chỉ dựa vào một số cán bộ làm công tác tổ chức - cán bộ, mà người phụ trách cơ quan, đơn vị phải đích thân thực hiện. Muốn phát hiện đúng nhân tài, người đứng đầu cơ quan, đơn vị (i) phải có tầm nhìn, có "con mắt tinh đời", biết ý kiến nào là đúng đắn, người nào đích thị là nhân tài; phải khuyến khích những ý kiến mới mẻ, có tính đột phá; (ii) cũng phải có cái Tâm vì dân, vì nước, vượt lên chính mình mới có thể khắc phục tư duy hẹp hòi, bè phái, địa phương, hoặc sợ mất ghế; (iii) người lãnh đạo phải là người tự nhận được rằng kiến thức của mình có hạn, cần luôn luôn lắng nghe, chịu học hỏi, vì sự nghiệp chung; đây chính là phẩm chất, đức độ của người lãnh đạo, bởi vì "người có tài mới phát hiện được nhân tài"; (iv) phải biết dựa vào dân, qua sự giám sát, đánh giá của dân mà phát hiện nhân tài.
Trọng dụng nhân tài
Để phát huy nhân tài vào công cuộc phát triển đất nước, nhất thiết phải trọng dụng nhân tài, coi lãng phí nhân tài là sự lãng phí lớn nhất, nghiêm trọng hơn lãng phí tiền bạc, là có tội đối với đất nước. Từ thực tế, xin đề xuất một số giải pháp về việc trọng dụng nhân tài trong bộ máy nhà nước như sau.
- Trước hết là về nhận thức. Cần có nhận thức sâu sắc hơn nữa về vị trí, vai trò của tri thức trong công cuộc phát triển đất nước khi hội nhập ngày càng sâu, khi cạnh tranh ngày càng quyết liệt. Trong thời đại mới này, phát triển nhất thiết phải dựa trên trí tuệ, dựa vào tri thức, và như vậy, phải dựa vào nhân tài. Điều quan trọng là cái Tâm của người lãnh đạo, lấy sự phát triển của đất nước làm trọng, giữ vững tinh thần đổi mới, khắc phục triệt để những tư duy giáo điều, cũ kỹ. Chỉ có chuyển biến thực sự về nhận thức, mới biết quý nhân tài, phát hiện được nhân tài, mới có thể có những đột phá về chính sách trọng dụng, tôn vinh nhân tài.
- Cần có niềm tin ở đội ngũ nhân tài nước ta. Họ là những người yêu nước, tâm huyết, tha thiết với sự nghiệp phát triển đất nước, những người có tài năng, trình độ đóng góp vào những vấn đề then chốt của quốc kế, dân sinh... Không nên có tư tưởng bè phái, phe nhóm, nghi kỵ họ, càng không nên quy chụp tràn lan. Với các nhân tài trong đồng bào định cư ở nước ngoài, cũng cần có thái độ cởi mở, tin tưởng, tinh thần hòa hợp dân tộc, biết khai thác thế mạnh của từng người, tránh thành kiến, hẹp hòi.
- Thực hiện công khai, minh bạch việc sử dụng và tôn vinh nhân tài. Không nên coi công tác tổ chức - cán bộ như một loại công tác bí mật, khép kín trong nội bộ cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc khép kín trong một số người. Cách làm như vậy chắc chắn không thể thu hút được người tài. Phải đề ra những tiêu chí rõ ràng, thực hiện công khai các cuộc tuyển chọn, bầu cử, bổ nhiệm, kể cả có tranh cử, để đặt người vào đúng chỗ, nhất là để khắc phục tình trạng "mua quan, bán chức". Điều quan trọng là thu hút người dân, các tổ chức xã hội vào việc tuyển chọn, đánh giá hiệu quả công việc của nhân tài, nhất là của những người lãnh đạo cơ quan, đơn vị. Việc tôn vinh nhân tài (qua các giải thưởng, danh hiệu) cũng cần được chấn chỉnh, sao cho đúng thực chất, tránh những hiện tượng tiêu cực, ban phát, xin-cho.
- Thể hiện trong thực tế tinh thần dân chủ, tự do tư tưởng. Quan trọng nhất là thái độ "lắng nghe" của người lãnh đạo, không "quy chụp"; đối với những vấn đề chưa nhất trí, thì cần thảo luận công khai, tranh luận thẳng thắn. Có như vậy, nhân tài mới "nói thật", phát biểu những gì mình suy nghĩ, hiến những kế sách luôn luôn đổi mới cho lãnh đạo. Đối với những vấn đề "nhạy cảm", càng cần phải phát huy tự do tư tưởng, khuyến khích thảo luận, tranh luận, không nên né tránh. Cơ quan nhà nước nên chủ động cung cấp thông tin cho giới trí thức, cho các nhân tài, giúp cho họ có những thông tin chính thống, tin cậy.
- Sử dụng nhiều hình thức để phát huy trí tuệ của nhân tài. Cần thực hiện rộng rãi việc cơ quan, đơn vị đặt hàng cho tổ chức hoặc cá nhân nhân tài về những chương trình, đề tài, dự án cần nghiên cứu, hoặc đề án cần có ý kiến phản biện. Cần phát huy tính tích cực của trí thức - nhân tài, động viên họ chủ động đề xuất những vấn đề cần nghiên cứu và tổ chức nghiên cứu. Rất nên khuyến khích hình thành các tổ chức tư vấn độc lập - các "think tank", qua đó tập hợp, khuyến khích và phát huy trí tuệ của đội ngũ nhân tài vào sự nghiệp phát triển đất nước. Đức độ của người lãnh đạo tổ chức, đơn vị là một yếu tố quyết định việc thu hút, "thu phục" người tài; thái độ chân thành, cởi mở, đức "lắng nghe" của họ là sức cảm hóa rất tự nhiên đối với nhân tài.
- Phải có đột phá trong hệ thống cơ chế, chính sách sử dụng nhân tài trong bộ máy nhà nước. Các chính sách phải bảo đảm thu hút nhân tài, giữ chân họ trong bộ máy nhà nước, để họ tập trung sức lực và thời gian cho công việc được giao; trong đó, chính sách tài chính cần được sửa đổi trước hết, không thể duy trì chế độ tiền lương quá lạc hậu như hiện nay. Nên sớm ban hành các văn bản quy phạm pháp luật cần thiết cho việc khuyến khích, phát huy nhân tài, như Quy chế dân chủ trong nghiên cứu khoa học, Luật về quyền thông tin, Luật về tư vấn, phản biện và giám sát xã hội, Luật về Hội.
Trên đây là một số ý kiến rất tóm tắt về những giải pháp quan trọng nhất cho sự trọng dụng, phát huy nhân tài vào công cuộc phát triển đất nước. Cần nâng cao hơn nữa tầm tư duy, đồng thời có đột phá về thể chế, chính sách; song điều quan trọng là người lãnh đạo, quản lý phải là người có tâm trong sáng, dám "vượt lên chính mình" để phát hiện và trọng dụng nhân tài.
Theo Doanh nhân Sài Gòn Cuối tuần

Thứ Năm, 17 tháng 11, 2011

Tay, chân và...cái đầu


Tác giả: KỲ DUYÊN, Tuần Việt Nam
Cái gì là lịch sử khách quan, trả lại cho lịch sử khách quan. Đừng nâng cổ tích trầm trọng như chuyện lịch sử, phải "đánh giá lại", cũng đừng coi thường lịch sử, để viết lịch sử như ...cổ tích.
Tay chân và... miệng
Giữa bao chuyện bộn bề của người lớn, Phát ngôn Tuần Việt Nam tuần này xin chọn đề tài con trẻ. Một chuyện chữa bệnh thể chất, một chuyện "chữa" bệnh tâm hồn.
Khởi đầu là chuyện bệnh tay chân miệng. Căn bệnh đang hoành hành ở cả 63 tỉnh, t/p cả nước với gần 90.000 người mắc, gần 150 em bé dưới 5 tuổi đã tử vong ở 27 tỉnh, t/p, tính đến thời điểm này.
Mới đây (16/11/2011) ViệtNamNet có bài "Bệnh tay chân miệng và câu hỏi với Bộ Y tế"
Câu hỏi đó là vì sao bệnh TCM hoành hành dữ dội trên khắp nước, nhưng Bộ vẫn quyết định...làm thinh? Để ít ra, xã hội nhận thức rõ hơn về mức độ nguy hiểm cũng như dành sự quan tâm và đầu tư nhiều hơn nữa cho công tác phòng chống dịch này của ngành.
Gõ Google, mới thấy TCM khá "thân" với con người. Thế giới đã từng công bố các đợt dịch (chỉ tính các dịch có số lượng lớn)
1997: 31 trẻ em đã chết trong một ổ dịch ở bang Sarawak ở Malaysia.
1998: Một ổ dịch ở Đài Loan, có 405 ca biến chứng nặng, và 78 em bé đã chết
2007: Ổ dịch lớn nhất của bệnh TCM tại Ấn Độ xảy ra  ở phía Đông của đất nước (Tây Bengal). Có 38 trường hợp mắc bệnh.
2008: Dịch bùng phát ở Trung Quốc, (tháng 3) tại Phụ Dương, An Huy, có 25.000 người mắc bệnh, và 42 người chết. Nhiều đợt dịch tương tự: Singapore (hơn 2.600 người-  tháng 4), Việt Nam (2.300 người, 11 người tử vong), Mông Cổ (1.600 người), và Brunei (1.053 người- tháng 6 đến tháng 8)
2009: 115.000 người ở Trung Quốc mắc bệnh (tháng 1 đến tháng 4), 773 người bị nặng và 50 người đã tử vong.
2010: Một ổ dịch xảy ra ở Khu tự trị tỉnh Quảng Tây, Quảng Đông, Hà Nam, Hà Bắc và Sơn Đông (Trung Quốc), 70.756 trẻ em  mắc bệnh và 40 người chết vì căn bệnh này.
Nếu so với số lượng người đã mắc, và tử vong vì bệnh TCM mà thế giới đã công bố, thì số trẻ mắc bệnh và tử vong vì bệnh TCM hiện nay ở Việt Nam không hề nhỏ. Thậm chí rất lớn.
Tìm hiểu nữa mới biết, TCM thuộc bệnh truyền nhiễm nhóm B. Do thẩm quyền Chủ tịch các UBND các địa phương công bố. Và chỉ khi có hai địa phương trở lên công bố có dịch, Bộ Y tế mới Bớ làng...bớ nước...
Ngày 4/11/2011, Ninh Thuận là tỉnh đầu tiên của cả nước công bố có dịch TCM. Ngay lập tức, được báo chí gọi là hành động dũng cảm.
Thực ra, cũng phải khi không kiểm soát nổi, mức độ trẻ mắc bệnh tăng gấp 23,7 lần so với năm trước, Ninh Thuận mới chấp nhận công bố dịch. Nhưng vẫn cứ được tôn vinh là dũng cảm. Dũng cảm vì... không còn thể dấu và kiểm soát được nữa.
Trong khi đó tại Quảng Ngãi, số trẻ tử vong đã là 5 em, tỉ lệ mắc bệnh cao gấp 45 lần so với cùng kỳ năm trước. So với các điều kiện y tế, môi trường sống, Quảng Ngãi khó khăn bội phần, nhưng dứt khoát Chủ tịch tỉnh kiểm soát được... cái sự phát ngôn, lấy im lặng là...vàng.
Chỉ khổ cho ông già Ozone- TS vật lý Nguyễn Văn Khải. Lọ mọ xách dung dịch Anolyte vào Ninh Thuận chữa bệnh cho trẻ em. Và mặc dù được ghi nhận một số trẻ mắc bệnh TCM tại Ninh Thuận đã lui bệnh sau khi dùng nước Ozone, nhưng Bộ Y tế vẫn không đồng ý. Bệnh TCM ở Ninh Thuận chưa lui, thì ông già Ozone đã phải... lui, trước cái mà nhiều người gọi đích danh- sự tự ái của Bộ Y tế. Dù không ai khẳng định Anolyte chữa khỏi hoàn toàn bệnh TCM.
Cái nước mình nó thế! Cố GS Hoàng Ngọc Hiến không ngờ câu nói hóm của ông trở thành châm ngôn hiện đại, mang tính phổ quát!
Còn vì sao Quảng Ngãi mắc "bệnh" im lặng? Liệu đó có phải là triệu chứng bên ngoài của căn bệnh thành tích không? Chỉ Quảng Ngãi mới tự trả lời được
Người ta vẫn bảo, im lặng lại là cách nói rõ nhất đó!
Cổ tích và thước đo lịch sử
Còn "chữa bệnh" tâm hồn là câu chuyện sửa cái kết của cổ tích Tấm- Cám, một cổ tích tiêu biểu mà người Việt nào cũng nhớ, đã gây ra sự tranh luận náo nhiệt, hoặc ủng hộ hoặc phản đối.
Nếu trước đây, cô Tấm thảo hiền chặt Cám- cô em mình làm mắm, rồi gửi về cho dì ghẻ, mẹ đẻ của Cám ăn, thì nay, Tấm đào hố, lừa Cám xuống và dội nước sôi (!) Một cái kết, mà theo tác giả Hà Văn Thịnh trong bài "Viết lại truyện cổ tích, tại sao không?" là sự dã man chẳng kém gì nhau.
Đúng là dã man chẳng kém gì nhau. Thậm chí sự dã man sau, cách tính toán còn thâm độc hơn. Đó là độc ác đi kèm lừa dối.
Trước đó, ngày 14/11/2011, bài viết của tác giả Nguyễn Văn Toàn, cũng trên Tuần Việt Nam lại cho rằng, nếu sửa cái kết của Tấm Cám, thì điều đó làm méo mó cái nhìn thời đại.
Người viết bài chợt nhớ cách đây ít lâu, nhà thơ Bùi Hoàng Tám có bài thơ khá hay: Về đi - Vọng phu!
Lòng chung thủy trở thành nhảm nhí
Trước thiêng liêng số phận một con người
Về đi - Vọng phu!
Mọi hi vọng đều qua rồi
Người đi không thể về được nữa
Về đi em
Trời quê mình vốn nhiều giông gió
Em và con mỏng manh chống trả thế nào!?
Về đi em
Người đời yêu nhau người ta chờ nhau
Dẫu là đá
Dẫu không còn là đá
Nhưng con em trên tay em đang đói lả.
Em hóa đá vì chồng
Con hóa đá vì ai?
Em hóa đá vì chồng
Con
Hóa
Đá

Ai...!?
Bài thơ đã khiến bao người yêu thơ, yêu cổ tích Nàng Vọng phu đồng cảm. Bởi cho rằng, đó là cách nhìn mới về một sự hy sinh vô ích, thậm chí ở đây lòng chung thủy trở thành nhảm nhí.
Nhưng người viết bài, khi đó quan niệm rằng, cảm thương và khuyên nhủ nàng Vọng phu, nhà thơ quên mất một điều, sự tích dân gian bao giờ cũng là con đẻ của một nền triết luận, luân lý, thậm chí là khoa học kỹ thuật...của thời đại ấy, dù còn rất sơ khai.
Nàng Vọng phu là sản phẩm của giáo lý một thời xưa cũ, khi xã hội Việt Nam ảnh hưởng rất nặng tư tưởng Nho giáo, Khổng giáo. Người đàn bà phải tam tòng tứ đức- có chồng phải theo chồng. Chồng bỏ đi xa thì nàng bồng con chờ đợi.
Chờ mãi. Đợi mãi. Đến hóa đá. Nàng hóa đá và con tim của nàng có lẽ cũng hóa đá. Nhưng nàng vẫn chờ. Hóa đá là "lẽ phải của đạo lý" thông thường ở thời của nàng.
Và ở phương diện đó, tình yêu của nàng không có tội, không hề nhảm nhí. Còn đứa con dứt ruột, mẹ là tất cả của nó. Nó cũng hóa đá vì tình yêu bi thương của mẹ dành cho cha nó.
Chẳng riêng gì phương Đông, phương Tây cũng có K. Simonov đó thôi: Em ơi, đợi anh về. Đợi anh hoài em nhé. Mưa vẫn rơi dầm dề. Ngày có dài lê thê. Thì em ơi, em cứ đợi.... Nàng Vọng phu của nhà thơ nước Nga liệu có chịu hóa đá? Hay đó chỉ là chỗ gặp nhau trong thi ca, trong cổ tích phương Đông- phương Tây?
Khi khuyên nhủ Nàng Vọng phu trở về, chính là nhà thơ nhìn Nàng Vọng phu xưa cũ bằng con mắt của thời đại mới, của triết học mới, tư tưởng mới. Thời mà bản ngã cá nhân lẫn quyền con người, nhất là người đàn bà được tôn trọng, được giải phóng.
Thì sẽ chỉ thấy cái vô lý của sự hóa đá, cái hạn chế của nàng mà ko nhìn thấy đó là sự hạn chế của cả một thời đại.
Cho dù là nhân ái, nhà thơ đã đem cái thước đo của thời hiện đại, để đo quá khứ. Nhưng hai thời đại khác nhau một tầm lịch sử.
Cũng vậy thôi, nếu bây giờ người ta đo cái hành động trả thù của cô Tấm trong truyện cổ tích vốn đa tầng, đa nghĩa, bằng cái nhìn của tư duy và luật pháp hiện đại, sẽ không cảm nhận hết đó chính là thông điệp cao nhất của nhân gian trong xã hội tiểu nông.
Họ yếm thế, phẫn nộ nên gửi gắm vào cổ tích, mong muốn sự công bằng xã hội, theo triết lý nhân sinh phải rạch ròi, sòng phẳng "có ơn trả ơn, có oán trả oán". Và phải trả oán bằng sự trừng phạt cao nhất- làm mắm! Đó là sự giải tỏa cao nhất sự căm phẫn cái ác.
Cổ tích có thân phận của nó, có tưởng tượng, có hư cấu, nhưng luôn gắn với hoàn cảnh lịch sử khách quan. Trải qua bao biến thiến, đời này đời khác, Tấm Cám được bồi đắp, có nhiều dị bản, nhưng cái kết vẫn giống nhau- đó là sự trừng phạt cái ác một cách nghiêm khắc nhất.
Hành động của Tấm khi trả thù Cám, không còn là hành động của một cá nhân, một cô chị với một cô em. Nó là xử lý của luật pháp đương thời. Và dưới cái nhìn hiện đại ngày nay, nó có phần man rợ, mang tính lề thói, lệ làng. Khiến cho giữa thời hiện đại, con người ta vẫn không thôi tranh luận về quá khứ, về cổ tích. Nhưng mông muội và văn minh, là hai thước đo khác nhau của hai thời đại.
Đừng sợ con trẻ bị nhiễu loạn, không phân biệt nổi giá trị Thiện- Ác. Hãy sợ xã hội chúng ta đang bị nhiễu bởi những thang bậc giá trị trắng đen. Vì cổ tích chỉ là ký ức, là di sản phi vật thể, còn xã hội là hiện tại, và những cái xấu, cái ác- tiếc thay luôn là "di sản vật thể" nhãn tiền.
Cũng đừng sợ con trẻ không biết phản biện phải trái, đúng sai. Mà hãy sợ các em chỉ học và sống kiểu thụ động. Để khi lớn lên, trước bất công phi lý cũng chỉ biết hành xử như trong câu chuyện cổ tích hiện đại mới đây: Từ đó, đến người "hiền tài" cũng im lặng..... ("Ba câu chuyện hiền tài",Tuần Việt Nam, 13/11/2011).
Nếu cái kết cổ tích, về phương diện nào cũng gây tranh cãi, xin hãy coi như tài liệu tham khảo, đọc thêm, không phải SGK chính khóa. Sự thấu thị hay giải mã cổ tích Tấm- Cám chắc chắn không bao giờ có một cách hiểu duy nhất đúng. Vì thế khó có cái kết cuối cùng.
Còn nếu cứ sửa Tấm- Cám, với cái đầu của con người hiện đại và mang tính chủ quan, có  bao cổ tích sẽ phải sửa? Như Nàng Vọng phu sửa bằng cách ...nung vôi. Như cô Tấm, thay cho việc làm mắm em gái, lại lọc lừa, đẩy em gái xuống hố và đổ nước sôi? Hay sửa xong, mỗi truyện là một kết cục đầu Ngô, mình Sở?
Cái gì cổ tích hãy trả cho cổ tích. Cái gì là lịch sử khách quan, trả lại cho lịch sử khách quan. Đừng nâng cổ tích trầm trọng như chuyện lịch sử, phải "đánh giá lại", cũng đừng coi thường lịch sử, để viết lịch sử như ...cổ tích.
Nếu không, đến lượt hậu sinh, cũng sẽ "đánh giá lại" chính chúng ta.