Tìm kiếm

Thứ Tư, 11 tháng 4, 2012

Ném tiền qua công trình, dự án


           Thứ Ba, 10/04/2012 tg: HỒNG - THY – NHẬT
       Xây đường 6-8 làn xe để dân phơi nông sản, lội bộ lên nương rẫy; đầu tư cả trăm tỉ đồng làm cảng cá nhưng tàu không thể ra vào… Hàng loạt công trình hoang phí như vậy đã mọc lên ở nhiều địa phương nghèo khó
          Chuyện đầu tư dàn trải, lãng phí vốn là vấn nạn gây nhức nhối dư luận lâu nay. Điều đáng nói là nhiều địa phương tuy còn rất khó khăn nhưng vẫn “xài sang” với những công trình hoang phí tiền tỉ, thậm chí cả ngàn tỉ đồng.
         “Siêu lộ” đìu hiu
         Kon Tum là một trong các địa phương thuộc diện nghèo nhất nước nhưng lại có hàng loạt công trình, dự án đầu tư lãng phí. Cuối năm 2009, con đường được xem là đẹp nhất Tây Nguyên, nối từ cửa khẩu Bờ Y đến Quốc lộ 14 ở phía Bắc thị trấn Plei Kần, huyện Ngọc Hồi – Kon Tum được đưa vào sử dụng với tổng kinh phí đầu tư hơn 900 tỉ đồng. 

Đường N5 ở Kon Tum đầu tư hàng trăm tỉ đồng nhưng hơn 2 năm nay, xe cộ không qua lại,người dân tận dụng phơi nông sản, tập lái xe…Ảnh: NHẤT ĐIỂM HỒNG
         Công trình này gồm đường NT18 dài 12,6 km, tổng vốn đầu tư 460,9 tỉ đồng và đường N5 dài 6,291 km, tổng kinh phí xây dựng 478,9 tỉ đồng.
Theo ngành GTVT tỉnh Kon Tum, đây là con đường cần thiết để phá thế độc đạo và làm giảm áp lực lưu thông trên Quốc lộ 40 từ thị trấn Plei Kần lên cửa khẩu Bờ Y, góp phần phát triển Khu Kinh tế Cửa khẩu Quốc tế Bờ Y.
          Tuy nhiên, từ khi đưa vào sử dụng đến nay, “siêu lộ” có 6-8 làn xe, rộng 40-50 m này hầu như không có phương tiện qua lại. Người dân địa phương đã tận dụng con đường thênh thang này làm bãi phơi nông sản, lội bộ lên nương rẫy, tập lái ô tô, xe máy...!

Đường N5 ở Kon Tum đầu tư hàng trăm tỉ đồng nhưng hơn 2 năm nay xe cộ không qua lại, người dân tận dụng phơi nông sản, tập lái xe, lội bộ đi thăm nương rẫy Ảnh: NHẤT ĐIỂM HỒNG
         Hiện nay, xe cộ từ các nơi lên cửa khẩu Bờ Y đều đi theo Quốc lộ 40 bởi thuận đường và tiện lợi. “Trong khi Quốc lộ 40 chật hẹp, nhiều đoạn chỉ rộng chừng 4 m lại xuống cấp nhưng người ta vẫn đi, còn con đường này được đầu tư xây dựng gần 1.000 tỉ đồng mà vẫn đìu hiu 2 năm nay thì quả thật rất lãng phí” - ông Đinh Bắc, ngụ thị trấn Plei Kần, ngao ngán.
          Nói về các dự án đầu tư gắn với Khu Kinh tế Cửa khẩu Quốc tế Bờ Y, ông Nguyễn Hữu Hải, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Kon Tum, thừa nhận: Nhiều công trình hàng trăm tỉ, hàng ngàn tỉ đồng khi thuyết minh để đầu tư đều nêu những lợi ích lớn nhưng lúc hoàn thành thì hiệu quả sử dụng không cao.
        Hiện Kon Tum đang triển khai dự án đường nối từ Quốc lộ 40 lên cột mốc ngã ba biên giới Lào - Campuchia - Việt Nam với tổng mức đầu tư 250 tỉ đồng. Đây là con đường ngoằn ngoèo, nằm trên sườn đồi trọc, không có dân cư. Đã có nhiều ý kiến lo ngại rằng khi hoàn thành, con đường này cũng sẽ chủ yếu phục vụ việc lên nương rẫy của dân địa phương mà thôi.
           Xót xa công trình tiền tỉ
         Tại Quảng Ngãi, cuối năm 2011, công trình cảng neo trú tàu thuyền và cửa biển Mỹ Á ở xã Phổ Quang, huyện Đức Phổ với mức đầu tư hơn 90 tỉ đồng đã được nghiệm thu đưa vào hoạt động. Thế nhưng, đến giữa tháng 2-2012, UBND tỉnh Quảng Ngãi đã lập đoàn thanh tra để làm rõ trách nhiệm những tập thể, cá nhân liên quan vì dự án này không hiệu quả.
           Hằng năm, cứ sau Tết là cửa biển Mỹ Á lại bị bồi lấp, ngư dân địa phương phải quần quật nạo vét thủ công để tàu thuyền có thể ra vào. Nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc đánh bắt của ngư dân, năm 2009, UBND tỉnh Quảng Ngãi đã đầu tư trên 90 tỉ đồng để xây dựng công trình cảng neo trú tàu thuyền và cửa biển Mỹ Á. Theo thiết kế, khi đưa vào sử dụng, công trình sẽ bảo đảm cho 400 tàu cá ra vào cửa biển và neo trú an toàn.
Tuy nhiên, khi công trình hoàn thành, cửa biển Mỹ Á vẫn bị bồi lấp nên tàu thuyền chưa thể ra vào. Thay vì vào cảng để bán hải sản và tiếp nhiên liệu, hàng trăm tàu cá của ngư dân phải neo đậu chen chúc ngay cửa biển.
Lão ngư Nguyễn Xếch, vạn trưởng vạn chài thôn Hải Tân, xã Phổ Quang, không thể nhớ nổi bao nhiêu tàu cá mắc cạn và bị chìm vì phải neo đậu bên ngoài. “Hiện chỉ còn khoảng 150 tàu quay về cửa biển, hơn 250 tàu khác phải vào neo trú ở những nơi khác” – ông Xếch cho biết.
          Gần đây, ngư dân lại gọi nhau đóng góp tiền thuê máy múc, xe ủi và xe tải để nạo vét cửa biển Mỹ Á. “Ngư dân tụi tôi đành phải bấm bụng góp 500.000 – 1,5 triệu đồng mỗi tàu nhưng vẫn không thấm vào đâu. Không biết chừng nào mới thông được cửa biển này” - ông Xếch rầu rĩ.
          Khu xử lý rác triệu đô “trùm mền”
        Đầu năm 2011, Khu Xử lý rác Lộc Thủy ở huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên - Huế đã được xây dựng hoàn thành nhưng đến nay vẫn chưa thể đi vào hoạt động. Công trình này có mức đầu tư 3,42 triệu USD, thuộc dự án cải thiện môi trường đô thị miền Trung, có thể xử lý 150 tấn rác/ngày, hiện đã bàn giao cho Công ty TNHH Môi trường - Công trình đô thị Huế quản lý.
         Theo ông Lê Chí Dũng, Trưởng Phòng Tài nguyên – Môi trường huyện Phú Lộc, để sớm đưa nhà máy này vào hoạt động, Công ty Môi trường - Công trình đô thị Huế đang phối hợp với huyện Phú Lộc thực hiện đề án thu gom, vận chuyển rác sinh hoạt đến đây. Theo đề án, mỗi hộ dân phải chịu phí vận chuyển rác từ nhà đến điểm tập trung với mức 7.000-11.000 đồng/tháng; chính quyền địa phương sẽ chịu phí vận chuyển từ điểm tập trung về Nhà máy Xử lý rác Lộc Thủy.
          “Tuy nhiên, người dân địa phương từ lâu đã quen với việc tự xử lý rác nên chuyện thu phí là rất khó” - ông Dũng lo ngại. Ước tính mỗi ngày, huyện Phú Lộc có 22 tấn rác thải các loại, trong khi Khu Xử lý rác Lộc Thủy vẫn “trùm mền” nên dẫn đến việc quá tải ở các bãi rác tạm.
            Nguồn: Báo Người Lao động

Chủ Nhật, 11 tháng 3, 2012

THƠ VUI VỀ PHÁI YẾU


Nhà tho Xuân Quỳnh
 Những người đàn ông các anh có bao nhiêu điều to lớn
Vượt qua ô cửa cỏn con, văn phòng hẹp hàng ngày
Các anh nghĩ ra tàu ngầm, tên lửa, máy bay
Tới thăm dò những hành tinh mới lạ
Tài sản của các anh là những tinh cầu, là vũ trụ
Các anh biết mỏ dầu, mỏ bạc ở nơi đâu
Chính phục đại dương bằng các con tàu
Đi tới tương lai trên con đường ngắn nhất
Mỗi các anh là một nhà chính khách
Các anh quan tâm đến chuyện mất còn của các quốc gia.
Biết bao điều quan trọng được đề ra
Những hiệp ước xoay vần thế giới
Chúng tôi chỉ là những người đàn bà bình thường không tên tuổi
Quen việc nhỏ nhoi bếp núc hàng ngày
Cuộc sống ngặt nghèo phải tính sao đây
Gạo, bánh, củi dầu chia thế nào cho đủ
Đầu óc linh tinh toàn nghĩ về chợ búa
Những quả cà, mớ tép, rau dưa
Đối với Nít và Kăng, những siêu nhân nay và xưa
Xin thú thực: chúng tôi thờ ơ hạng nhất

Chúng tôi còn phải xếp hàng mua thịt
Sắm cho con đôi dép tới trường
Chúng tôi quan tâm đến xà phòng, đến thuốc đánh răng
Lo đan áo cho chồng con khỏi rét...

Chúng tôi là những người đàn bà bình thường trên trái đất.
Quen với việc nhỏ nhoi bếp núc hàng ngày
Chúng tôi chẳng có tàu ngầm, tên lửa, máy bay
Càng không có hạt nhân nguyên tử
Chúng tôi chỉ có chậu có nồi có lửa
Có tình yêu và có lời ru
Những con cò con vạc từ xưa
Vẫn lặn lội bờ sông bắt tép
Cuộc sống vẫn ngàn đời nối tiếp
Như trăng lên, như hoa nở mỗi ngày...

Nếu không có ví dụ chúng tôi đây
Liệu cuộc sống có còn là cuộc sống
Ai sẽ mang lại cho các anh vui buồn hạnh phúc
Mở lòng đón các anh sau thất bại nhọc nhằn
Thử nghĩ xem thế giới chỉ đàn ông
Các anh sẽ không còn biết yêu biết ghét
Các anh không đánh nhau nhưng cũng chẳng làm nên gì hết
Thế giới sẽ già nua và sẽ lụi tàn
Ai sẽ là người sinh ra những đứa con
Để tiếp tục giống nòi và dạy chúng biết yêu, biết hát.

Buổi sớm mai ướm bước chân mình lên vết chân trên cát
Bà mẹ đã cho ra đời những Phù Đổng Thiên Vương
Dẫu là nguyên thủ quốc gia hay là những anh hùng
Là bác học... hay là ai đi nữa
Vẫn là con của một người phụ nữ
Một người đàn bà bình thường, không ai biết tuổi tên

Anh thân yêu, người vĩ đại của em
Anh là mặt trời, em chỉ là hạt muối
Một chút mặn giữa đại dương vời vợi,
Lời rong rêu chưa ai biết bao giờ
Em chỉ là ngọn cỏ dưới chân qua
Là hạt bụi vô tình trên áo
Nhưng nếu sáng nay em chẳng đong được gạo
Chắc chắn buổi chiều anh không có cơm ăn.

Vài đoạn thơ vui nhân dịp ngày xuân
Đùa một chút xin các anh đừng giận
Thú thực là chúng tôi cũng không sống được
Nếu không có các anh, thế giới chỉ đàn bà.

Xuân Quỳnh 1986

Thứ Ba, 6 tháng 3, 2012

THƯ KÊU GỌI ĐÀN ÔNG NHÂN NGÀY 08/3


Hỡi anh em,
Lại một lần nữa, cái ngày đáng sợ ấy sắp tới. Không thể thoát được nó, không thể hoãn được nó, càng không thể chạy trốn nó. Vậy chúng ta hãy đứng sát vào nhau, hãy nắm chặt tay và đối diện với nó một cách anh hùng.
Thưa anh em,
Có bất công không? Khi trong suốt cuộc đời vất vả, nặng nhọc đầy gian lao chúng ta không có một ngày dành cho mình. Đã từ lâu, cái thế giới mỏng manh này có ngày chống thuốc lá, ngày phòng si-đa, thậm chí có cả ngày cúm gà mà vẫn làm ngơ, không dành cho đàn ông một hôm nào cả.
Vì sao thế? Và đã từ lâu, thế giới bị phụ nữ thao túng mất rồi. Từ trong nhà ra đường phố, từ công ty tới bệnh viện, phụ nữ đã tràn ngập, đã cai quản, đã ra lệnh. Chúng ta mặc gì, chúng ta ăn gì, chúng ta đi đâu, quan hệ với ai, kiếm ra tiền và cất ở chỗ nào đều bị phụ nữ kiểm soát, bắt bớ, theo dõi và tra khảo. Vậy phụ nữ là ai?
Về bản chất, phụ nữ cũng là con người như chúng ta. Nghĩa là cũng thích ăn, thích uống, thích vui chơi và tụ tập đàn đúm (khoản sau cùng này thì hơn hẳn). Ta thuốc lá, chị em có thuốc lá. Ta rượu, chị em có rượu. Ta cờ bạc, chị em cũng bạc cờ, ta... vân vân, chị em cũng... vân vân và vân vân.
Sở dĩ "chúng" hơn ta, làm khổ ta, hại được ta và "chúng" có những vũ khí tối tân mà chả bao giờ ta có: đấy là nước da trắng, đấy là làn môi cong, đấy là mắt bồ câu, đấy là mũi dọc dừa, là giọng nói dịu dàng và tiếng cười khanh khách như chim.
Mang những dụng cụ “giết người hàng loạt” như thế, xông vào đám đàn ông ngơ ngác, tội nghiệp, thiếu đoàn kết, phụ nữ đã xây dựng nên một chế độ hà khắc, một hoàn cảnh sống thật tội nghiệp: Bao nhiêu đàn ông bị giam cầm trong các gia đình, bị ăn, ngủ, xem ti vi và cả tắm nữa theo điều lệnh. Bao nhiêu trai trẻ bị áp tải đi chơi, bị ép phải mua quà, bị dồn vào thế phải tặng hoa, tặng bánh sinh nhật hoặc phải chờ đợi đến mềm nhũn dưới trời mưa như rất nhiều bộ phim tình cảm đã tố cáo. Bằng các thủ đoạn quỷ quyệt như nhảy múa tung tăng, chớp chớp mắt (có gắn lông mi) và kêu thét lên mỗi khi thấy chuột, phụ nữ làm đội ngũ đàn ông tan tác, mất hết lý trí, không còn chút sáng suốt, quên mình, quên cả tiền bạc của mình.
Bằng những mảnh vải mỏng, nhẹ, gọi là áo, bằng những miếng cắt xéo, quấn bí hiểm gọi là váy, bằng những sợi dây sặc sỡ như con giun gọi là ruy-băng, phụ nữ làm chúng ta phải đầu hàng, phải sung sướng khi bị bắt làm tù binh, thà chết (và đã chết) chứ không vượt ngục. Hậu quả chính sách hà khắc của nền cai trị chuyên chế đó là trong khi chúng ta còng lưng bên máy tính, đổ mồ hôi trong nhà xưởng thì phụ nữ ngồi chễm chệ trong tiệm gội đầu, vểnh tay làm móng hoặc ngồi gật gù quanh gánh bún riêu. Trong khi chúng ta kiệt sức vì hội thảo, vì nghe lời la mắng của sếp thì phụ nữ hào hứng lắc vòng, nằm dài trong phòng hơi nước để giảm cân. Trong khi chúng ta mất ngủ vì giá xăng dầu, giá xi măng, phụ nữ cứ vác về mà chả quan tâm tới giá tiền kem dưỡng da, kem tan mỡ và kem trị mụn.
Hỡi anh em,
Tưởng như vậy đã tột cùng, phụ nữ vẫn không dừng lại. Chả tham khảo ý kiến, chả cần tìm hiểu sức khỏe và tiền bạc của đàn ông, phụ nữ tung ra ngày 8/3 như một ngày tổng phản công cuối cùng, nhằm quét sạch những ước mong chống đối.
Trong cái ngày dài hơn thế kỷ ấy, hàng triệu thân xác gầy gò, lóng cóng tội nghiệp của anh em chúng ta sẽ phải chúi đầu vào chậu rửa chén, rụt cổ trong giỏ thức ăn mua từ chợ, lê bước trong phòng với chổi lau nhà. Trong cái ngày kinh khiếp đó, anh em sẽ giặt tã đến mười hai giờ, bổ củi đến ba giờ, rửa tủ lạnh, khua mạng nhện, đổ rác đến đêm, những lúc giải lao thì khâu quần áo.
Anh em có sống sót qua một ngày như thế không? Tôi tin là không. Nhưng nổi loạn à? Đường lối đấu tranh của chúng ta đã định hướng từ lâu là không manh động. Chạy trốn à? Chưa từng có ai chạy thoát, mà thoát là thoát đi đâu?
Vậy anh em hãy chứng tỏ sức mạnh của mình bằng cách làm thật tốt những gì phải làm, khiến phụ nữ kinh ngạc, hoảng sợ choáng váng: Nếu rửa bát, anh em hãy rửa sạch đến mức ba tuần sau vẫn không cần rửa lại. Nếu lau nhà, anh em hãy lau bóng tới mức con ruồi đậu xuống không bay nữa vì mải soi gương. Nếu đi chợ, anh em hãy mặc cả ráo riết, trả giá gắt gao, mua rẻ tới độ sau ngày này, các hàng bán cá, bán gà đều phá sản.
Tóm lại, hãy dùng “gậy bà đập lưng bà”. Hãy biến ngày 8/3 là ngày của chúng ta, khi đàn ông cười nói râm ran, í ới gọi nhau trong siêu thị và túm tụm ăn quà ngoài vỉa hè. Hãy làm cho phụ nữ tiếc đứt ruột và không có cơ hội nào trong giây phút ấy được sờ vào dụng cụ gia đình, được tắm mình trong không khí bếp núc hội hè. Hãy khiến các cô gái khắp nơi hiểu rằng chỉ có ý chí, sức mạnh và khả năng sáng tạo của đàn ông mới biến được một ngày thành một đời. Nếu có một lá cờ thêu chữ 8/3, tôi muốn anh em giật lấy nó, cầm nó xông lên và vẫy thật cao như ngọn đuốc rực lửa.
Anh em tiến lên. Chiến thắng hay là chết!
Theo Lê Hoàng - (TN)

Thứ Sáu, 3 tháng 2, 2012

Ai đang phá vỡ truyền thống gia đình Việt?


Truyền thống gia đình thuần Á hoặc thuần Việt sẽ không còn nữa, bữa cơm tối khi gia đình quây quần bên nhau đang được thay bằng mỗi thành viên trong gia đình ngồi ăn một mình lặng lẽ và vội vã để theo kịp thời gian biểu được góp phần của việc đổi giờ học và giờ làm hiện nay.
Gia đình - tế bào của cấu trúc xã hội đang bị phá hủy. Một xã hội trong kinh tế thị trường đang đẩy mạnh sự phá vỡ các tế bào này. Truyền thống gia đình thuần Á hoặc thuần Việt sẽ không còn nữa, bữa cơm tối khi gia đình quây quần bên nhau đang được thay bằng mỗi thành viên trong gia đình ngồi ăn một mình lặng lẽ và vội vã để theo kịp thời gian biểu được góp phần của việc đổi giờ học và giờ làm hiện nay. Một cô giáo về hưu, nhưng vẫn đi dạy thêm ở các trường ngao ngán: Có lẽ tắc đường vẫn tốt hơn… Cô nặng tình cảm quá!
Hàng ngày bữa sáng và bữa trưa cô ăn uống qua quýt. Buổi sáng hoặc giữa giờ, con gái cô học lớp 10 cũng ăn ở trường bữa trưa. Chồng cô đi làm thêm tuy đã đến tuổi về hưu từ lâu, nhưng không có chế độ hưu trí và còn sức phải nuôi đứa con gái út và mẹ già nhân tiện tích lũy cho tuổi già của mình. Với gia đình, coi như không còn buổi chiều cùng nhau nữa, thậm chí ăn uống qua loa ngay cả bữa cơm chiều.
Tôi đến thăm cô buổi chiều ngày đông rét mướt sau Tết, nhìn mâm cơm mà ái ngại, chạnh đau trong lòng: bát măng còn thừa từ Tết đóng băng, mấy khúc giò rán đi rán lại đã sém và bát dưa hành muối…
Trong ngôn ngữ tin học của tôi, một hệ thống có cấu trúc lỏng lẻo là hệ thống mất ổn định nhất… Giờ đây những đứa con cũng không còn được mẹ quan tâm nhiều, chuyện trò sau mỗi bước đi trong ngày nữa. Một gia đình khi không còn được liên kết chặt chẽ rồi sẽ ra sao? Tết vừa qua tôi có xem chương trình Talk Vietnam với anh Kyo York. Anh nhận xét về cái Tết ấm cúng của người Việt: "Dù đi đâu ở đâu người Việt cũng về sum họp cùng gia đình, khác với Giáng sinh ở Mỹ".
Anh có biết không? Nếu nước tôi phát triển trở thành một nước công nghiệp, khi nước Mỹ công nhận Việt Nam là một nước có nền kinh tế thị trường đầy đủ, thì cái Tết của chúng tôi còn có được như bây giờ hay không? Phải chăng đó cũng sẽ là một điều xa xỉ…
Ai đang phá vỡ những truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt? Ai đang cố níu kéo nó?
Nhiều lúc vô tình hay cố ý, với lý lẽ của tối ưu của toàn hệ thống kinh tế mà quên đi yếu tố truyền thống xã hội ngàn năm nay, nếu không có nó đã không có dân tộc Việt và nước Việt ngày nay. Một sự đánh đổi, liệu có đắt không?
Làm thế nào chúng ta vẫn giữ được truyền thống gia đình Việt, bản sắc dân tộc Việt, những đức tính quý báu của người Việt trong một xã hội công nghiệp phát triển?
Tôi luôn đau đáu điều này và cảm thấy buồn mỗi khi nhận thấy mỗi ngày chúng ta, tôi và các bạn đánh mất đi một điều gì đó rất Việt mà không rõ mất ở đâu và tại sao lại bị mất?
Bữa cơm tôi nói với các bạn chỉ là một tượng trưng và ước lệ. Nếu bạn cùng tôi lặng người xuống, nhìn dòng người hối hả đổ về quê, rồi lại hối hả đổ về chốn đô thị sau Tết. Họ để lại cả miền quê yên ả với cha mẹ già và con thơ để kiếm sống, bươn chải trong nền kinh tế thị trường, bạn sẽ thấy được tế bào - gia đình Việt bị gậm nhấm mòn mỏi ra sao?
Và còn nhiều, rất nhiều mất mát hàng ngày đang xói mòn đạo đức Việt mà chúng ta luôn hối tiếc, ngỡ ngàng rồi ngậm ngùi khi thấy tuột khỏi văn hóa - đời sống người Việt…
Nghiêm Mỹ - http://vnexpress.net


Thứ Hai, 30 tháng 1, 2012

Nâng cao tính tiên phong gương mẫu của người đảng viên

Nguồn: Báo Nhân dân, Thứ hai, 30/01/2012  
ND - Trong lịch sử đấu tranh của Ðảng ta qua mỗi chặng đường cách mạng và trong mọi hoạt động của cuộc sống hằng ngày, nhất là trên mặt trận chiến đấu và sản xuất, rất nhiều cán bộ, đảng viên tỏ ra anh dũng, gương mẫu, gian khổ đi trước, hưởng thụ đi sau và đã làm nên những thành tích vẻ vang.
Tiếp nối truyền thống cách mạng ấy, từ khi bước vào thời kỳ đổi mới đến nay, nói chung đội ngũ cán bộ, đảng viên đã phát huy được vai trò tiên phong, gương mẫu, bảo đảm được yêu cầu của nhiệm vụ chính trị. Những thành tựu đã đạt được trong sự nghiệp đổi mới hơn hai thập niên qua, chứng tỏ chúng ta có một đội ngũ cán bộ, đảng viên tốt, có bản lĩnh, trưởng thành và phát triển nhanh, vững vàng trước những diễn biến phức tạp của tình hình; thông minh, năng động, sáng tạo, bước đầu đáp ứng được những đòi hỏi của giai đoạn cách mạng mới. Từ đất liền tới vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo, từ các viện nghiên cứu âm thầm đến những nơi phải trải qua những trận cuồng phong, bão lũ; từ Ban Chấp hành Trung ương đến mỗi địa phương, cơ sở, ở trong nước hay công tác nước ngoài..., ở đâu, trong lĩnh vực nào cũng đều xuất hiện những người đảng viên gương mẫu. Ðó có thể là những chủ trương, quyết sách ở đường hướng vĩ mô, có thể là những việc làm ở tầm vi mô mà sức lan tỏa lại không hề nhỏ. Chẳng hạn, những đảng viên sẵn sàng dỡ nhà ở và hiến đất thổ cư cho Nhà nước làm đường, làm trường học; sẵn sàng di chuyển từ đường thờ tự và mồ mả tổ tiên để xây dựng khu công nghiệp. Việc làm của những đảng viên cao tuổi đã tác động mạnh mẽ đến đông đảo quần chúng, dấy lên phong trào hiến của riêng cho sự nghiệp chung; tiêu biểu như ở: Thái Nguyên (1), Quảng Nam, Ðà Nẵng; những đảng viên đi đầu "cắm" bản ở Lai Châu, Yên Bái, Thái Nguyên (2)..., thường xuyên gần dân, nói và làm để dân hiểu, dân nghe, dân tin và làm theo, từng bước xóa nghèo, nâng cao dần đời sống cho nhân dân. Qua đó, có thể thấy trong điều kiện đời sống còn nhiều khó khăn và còn nhiều tác động tiêu cực của xã hội, số đông vẫn giữ được lối sống lành mạnh, chăm lo đến sự nghiệp chung.
Tuy nhiên, cùng những ưu điểm, đội ngũ cán bộ, đảng viên của ta cũng còn không ít những nhược điểm, khuyết điểm. Nổi bật nhất là: tình trạng sa sút về phẩm chất chính trị, đạo đức và lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên. Bên cạnh những biểu hiện dao động, phân tâm, mất niềm tin vào chủ nghĩa xã hội và sự lãnh đạo của Ðảng. Hiện tượng chạy theo đồng tiền, lợi dụng chức quyền và những sơ hở trong cơ chế, chính sách, luật pháp, làm giàu bất chính là có thật. Một số vụ tham nhũng, buôn lậu, hình thành những đường dây có tổ chức, số người giàu nhanh bất bình thường gia tăng đang bị dư luận nghi vấn; ở không ít nơi lợi ích cá nhân đang lấn dần lợi ích tập thể, cộng đồng; lợi ích cục bộ lấn át lợi ích toàn bộ. Một số người bộc lộ rất rõ tham vọng cá nhân, kèn cựa, địa vị, gia trưởng, độc đoán, chuyên quyền; ý thức tổ chức kỷ luật kém, phát ngôn tùy tiện, gây mất đoàn kết, bất chấp các nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt đảng và lợi ích của nhân dân v.v.
Tình hình trên có nhiều nguyên nhân; trong đó, có ba nguyên nhân rất quan trọng: một là, cấp ủy, tổ chức đảng cơ quan, đoàn thể, buông lỏng công tác giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên, quá thiên về lợi ích vật chất và xem nhẹ việc giáo dục lý tưởng, tinh thần trách nhiệm. Hai là, cơ chế, chính sách, pháp luật còn thiếu đồng bộ và có nhiều sơ hở. Ba là, bản thân người cán bộ, đảng viên không chú ý tự rèn luyện thường xuyên, chạy theo lợi ích cá nhân, không giữ gìn phẩm chất đạo đức, tư cách; thiếu ý thức gương mẫu đi đầu của người đảng viên cộng sản.
Cùng với học tập đạo đức theo tấm gương sáng Bác Hồ, thực hiện Ðiều lệ Ðảng, gương mẫu chấp hành nghiêm Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước, Pháp lệnh Cán bộ, công chức; đã đến lúc chúng ta cần có những giải pháp khả thi, phù hợp đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên phải tự ý thức, nỗ lực vươn lên xứng tầm là những người tiên phong trong đội ngũ tiên phong của giai cấp và dân tộc.  
Ðảng lãnh đạo cách mạng không chỉ bằng chủ trương, đường lối, bằng chính sách... mà còn bằng "nêu gương"; tức là "từ sự gương mẫu về mọi mặt của các tổ chức và từng cán bộ, đảng viên trong bộ máy Ðảng, Nhà nước và các đoàn thể mà phát huy vai trò lãnh đạo". Hồ Chí Minh viết: "Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ "cộng sản" mà ta được họ yêu mến... Muốn hướng dẫn nhân dân mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước...". Có thể nói, đây là một vấn đề vừa rộng lớn, cao xa, vừa thường nhật, gần gũi; vừa hăng hái, xung phong, vừa kiên trì, bền bỉ, tinh tế; vừa liên quan đến lý tưởng sống - lẽ sống, vừa hiển hiện trong lối sống, hành vi sống thường ngày...
Trước hết, đề cao hơn nữa ý tưởng sống, lẽ sống của người đảng viên cộng sản.
Suốt 80 năm qua, trong cuộc đấu tranh mất còn với kẻ thù, chúng ta đã trải qua vô vàn khó khăn phức tạp như: Khủng bố trắng thời kỳ 1930-1931 và Xô-viết Nghệ-Tĩnh, đối phó với thù trong và giặc ngoài khi chính quyền dân chủ nhân dân còn non trẻ, giữ gìn lực lượng trước thủ đoạn "Tố Cộng, diệt Cộng" của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai Ngô Ðình Diệm; và ngay cả sau chiến thắng 30-4-1975, chúng ta đã trải qua những tình huống khó khăn phức tạp như khắc phục hậu quả của chiến tranh, khôi phục, quản lý kinh tế, đổi mới cơ chế quản lý, chống chiến tranh ở biên giới phía Tây Nam và phía Bắc... Trong phong ba bão táp, Ðảng ta đã kiên định vững vàng, không từ bỏ mục tiêu, lý tưởng, không run sợ trước áp lực của kẻ thù, không nhụt chí trước khó khăn chồng chất, không hạ thấp vị trí tiền phong chiến đấu và trách nhiệm là người tổ chức mọi thắng lợi của cách mạng, một lòng tận tụy phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Hàng chục vạn đảng viên, cán bộ ta trước kia cũng như hiện nay đã mãi mãi để lại những tấm gương quên mình, âm thầm và oanh liệt. Bởi thế, nhân dân gọi Ðảng là "Ðảng ta" và đã đặt trọn niềm tin vào Ðảng, thừa nhận Ðảng là đội tiên phong chính trị, người lãnh đạo chân chính, duy nhất của cả dân tộc.
Ðược như vậy cũng còn bởi "Ðảng ta là con nòi, xuất thân từ giai cấp lao động" như Bác Hồ đã nói. Trong bất cứ hoàn cảnh nào, như "vàng đã thử lửa", trong chiến tranh cũng như trong hòa bình, trong môi trường thế giới thuận lợi cũng như khi có những bất đồng, biến động, trong thắng lợi cũng như khi vấp váp sai lầm, khuyết điểm, Ðảng ta vẫn đứng vững trên nền móng của một đứa "con nòi", đó là bản chất giai cấp công nhân, bản chất cách mạng và khoa học, giữ vững niềm tin cộng sản, dù trong lao tù, máu lửa, trong xây dựng kinh tế hay trong đời sống hằng ngày... Còn nhớ, nhân dịp 50 năm thành lập Ðảng, Tổng Bí thư Lê Duẩn về thăm Quảng Ninh, nói chuyện với cán bộ, đảng viên công nhân mỏ (từ ngày 24 đến ngày 25-1-1960), đồng chí nhấn mạnh: Một người công nhân có giác ngộ lý tưởng không phải chỉ làm để lấy tiền lương, không phải chỉ làm cho mình mà làm cho cả dân tộc, cho cả mai sau(3). Từng đảng bộ, mỗi người cán bộ, đảng viên gương mẫu đi đầu. Chính gương mẫu đi đầu là cội nguồn của thắng lợi. Hãy thắp sáng mãi lý tưởng và niềm tin cộng sản như mỗi người từng đặt tay nơi trái tim mình tuyên thệ dưới Ðảng kỳ, âm vang mãi trong tâm hồn ta bài Quốc tế ca bất hủ.
Sẽ còn một số người suy nghĩ đắn đo về lý tưởng, lẽ sống là cái gì trừu tượng, xa xăm; tuy tốt đẹp và cao thượng đấy, nhưng có tính đếm được đâu trong cơ chế thị trường? Suy cho cùng, đã là con người thì ai chẳng phải một lần vấn vương vì cái chết. Ai cũng qua ải đó, có ai mang được tiền của đi theo? Người cộng sản xưa vượt qua cái đói, vượt qua làn gió thoảng mùi thơm quyến rũ của "con cá chột nưa", rồi thà chết đấu tranh, giành lại một mùa thu Cách mạng Tháng Tám đổi đời cho mọi kiếp người và hồi sinh cho cả dân tộc. Cái chết ấy đã gieo mầm cho sự sống vĩnh hằng. Cán bộ, đảng viên, những người cộng sản ở bất cứ nơi đâu trên trái đất này "đã dấn thân vô" cho sự nghiệp giải phóng xã hội, giải phóng giai cấp, giải phóng con người thì phải đề cao lý tưởng sống, lẽ sống. Sống đẹp như những hình tượng truyền đời, vượt mọi rào ngăn biên giới. Phu-xích (Séc - Xlôvakia), Chêghêvara (Cuba), Paven Coocxaghin (Nga), Lôi Phong (Trung Hoa) đều cùng một lý tưởng: "Ðời người chỉ sống có một lần. Phải sống sao cho khỏi xót xa ân hận vì dĩ vãng ti tiện và đớn hèn của mình, vì những năm tháng đã sống hoài sống phí; để khi nhắm mắt xuôi tay có thể nói rằng: tất cả đời ta, tất cả sức mạnh ta đã đấu tranh cho sự nghiệp cao đẹp nhất tren đời - sự nghiệp đấu tranh giải phóng con người!"; và chung một lẽ sống, một phương châm hành xử: "Với đồng chí ấm áp như mùa Xuân, với việc chung cháy nồng như nắng hạ, với chủ nghĩa cá nhân như gió mùa thu quét lá, với quân thù như băng giá đêm đông"...
Thứ hai, người đảng viên cộng sản phải thật sự tôn trọng danh dự, tư cách, trách nhiệm của mình.
Nhớ vào khoảng thời gian những năm 90 thế kỷ XX, ở một thành phố lớn phía Nam, để được tuyển dụng vào làm việc trong một số cơ sở sản xuất, kinh doanh đã có những đảng viên phải "giấu" thẻ Ðảng của mình đi để dễ bề xin việc. Ngược lại, cũng có luồng suy nghĩ không thành văn bản nhưng được người ta thừa nhận trong thực tế rằng, vào Ðảng là đặt chân vào nấc thang thăng tiến. Không bình luận về những câu chuyện đại loại kiểu này, song, rõ ràng là có vấn đề trong câu chuyện danh hiệu của người đảng viên cộng sản và những hệ lụy phát sinh vào hoàn cảnh lịch sử cụ thể đó. Nếu thực sự động cơ vào Ðảng, trở thành người đảng viên cộng sản là một quá trình phấn đấu vì lý tưởng, tự nguyện, xả thân cống hiến; là trải qua khó khăn và vượt qua được những thử thách cam go ví như "vàng qua lửa đỏ", thì mỗi người đảng viên hẳn phải ý thức được, tự kiểm chứng "ái giá trị thật", phẩm chất thật của mình: tôi luyện ra sao, trưởng thành như thế nào? Chí ít là vượt hơn chính bản thân mình khi chưa được đứng trong hàng ngũ Ðảng. Vượt hơn về bản lĩnh, trí tuệ, văn hóa, về đạo đức, lương tâm, danh dự. Và hơn hết là trách nhiệm với tổ chức, trách nhiệm với xã hội, trách nhiệm với mọi người. Không phải tất cả đều trở thành những vĩ nhân nhưng xã hội luôn cần những đảng viên có trách nhiệm. Họ phải biết suy nghĩ lại những việc làm của mình khi quần chúng phàn nàn rằng: Ông (bà) ấy là đảng viên mà lại thế! Quần chúng, nhân dân nhìn thấu những điều này. Ai là người đi đầu, đâu là kẻ đã theo đuôi những phần tử cực đoan, quá khích trong các vụ tranh chấp đất đai, gây thiệt hại lớn về người, về của và làm rối loạn trật tự an ninh xã hội? Theo đuôi quần chúng tức là đã đánh mất vai trò tiền phong lãnh đạo của Ðảng. Người đảng viên phải tích cực tuyên truyền, vận động nhân dân, nâng cao nhận thức của nhân dân lên ngang tầm yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng hiện nay.
Hơn thế nữa, không chỉ tích cực trong tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục nhân dân mà người đảng viên và gia đình ở cơ sở cần phải gương mẫu trong hành động thực tế, thật sự trở thành tấm gương sáng về lao động, làm giàu chính đáng, học tập nâng cao trình độ văn hóa, chuyên môn, xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hóa... để nhân dân noi theo, tin theo trong thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật của Ðảng và Nhà nước. "Ðảng viên đi trước, làng nước theo sau". Ðây là một phương pháp công tác tốt của người đảng viên - thống nhất giữa nhận thức và hoạt động thực tiễn; đồng thời đây cũng chính là một nguyên tắc của đạo đức Hồ Chí Minh: Lời nói đi đôi với việc làm mẫu mực, năng động, sáng tạo, xông xáo của người cán bộ, đảng viên là những "mệnh lệnh không lời" đầy sức thuyết phục, cảm hóa và lôi cuốn nhân dân. Thông qua lời nói và việc làm gương mẫu của người đảng viên, nhân dân tin Ðảng, theo Ðảng. Và cũng cần nói thêm rằng, quần chúng, nhân dân ở cơ sở cần những đảng viên, người lãnh đạo có trí tuệ sáng suốt, biết trọng chữ "Tín", nói đúng, làm giỏi, có năng lực vận dụng tri thức khoa học và tổ chức thực tiễn; biết tập hợp, giác ngộ và dẫn dắt quần chúng vào các phong trào hành động cách mạng sôi nổi, liên tục, có hiệu quả.
Ðể xứng đáng vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ của nhân dân mỗi cán bộ, đảng viên phải không ngừng rèn luyện, phấn đấu: "Ðặt lợi ích của Ðảng và của nhân dân lao động lên trên, lên trước lợi ích riêng của cá nhân mình. Hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Vì Ðảng, vì dân mà đấu tranh quên mình, gương mẫu trong mọi việc"(4).
Thứ ba, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát cán bộ, đảng viên; đồng thời phải dựa vào dân để xây dựng Ðảng.
Mỗi cán bộ, đảng viên đều sinh hoạt trong một tổ chức cơ sở đảng, khi rời nơi làm việc thường cư trú trên một địa bàn nhất định. Bên cạnh việc đảng viên thực hiện tự phê bình và phê bình để nâng cao tư tưởng, cải tiến công tác của mình và cùng đồng chí mình tiến bộ cần phải tăng cường hơn nữa công tác kiểm tra, giám sát của Ðảng. Công tác này cần có sự phối hợp chặt chẽ, thường xuyên, liên tục và định kỳ  giữa cấp ủy cơ quan, đơn vị công tác và cấp ủy cơ sở nơi đảng viên cư trú. Như vậy cần phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội trong việc vận động quần chúng, nhân dân giám sát cán bộ, đảng viên thông qua việc phản ánh trực tiếp hoặc lấy phiếu góp ý. Thực hiện nghiêm quy định của Bộ Chính trị về xử lý đảng viên vi phạm; về những điều đảng viên không được làm. Cấp ủy cơ sở phải là những người gương mẫu trong mọi công việc, đồng thời cần giám sát đảng viên về các mặt; hằng năm phải tổ chức cho cơ sở đảng đăng ký phấn đấu thực hiện các nhiệm vụ với cấp ủy cấp trên. Trong đó, có nội dung cam kết không có cán bộ, đảng viên tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Ðó là căn cứ để cấp ủy cấp trên đánh giá chất lượng tổ chức cơ sở đảng và đảng viên vào cuối năm.
Tiếp tục đổi mới nội dung và phương thức đánh giá chất lượng tổ chức cơ sở đảng và đảng viên. Ðánh giá chất lượng tổ chức cơ sở đảng phải gắn với kết quả thực hiện nhiệm vụ chính trị, sự vững mạnh của các tổ chức trong hệ thống chính trị và đặc biệt là chất lượng của đội ngũ cán bộ, đảng viên; đồng thời cần thông báo để quần chúng, nhân dân tham gia ý kiến. Cấp ủy cấp trên trực tiếp của tổ chức cơ sở đảng phải kiểm tra, thẩm định chặt chẽ và chịu trách nhiệm về kết quả đánh giá chất lượng tổ chức cơ sở đảng và đảng viên trong phạm vi quản lý của cấp mình. Cần xây dựng quy trình chặt chẽ, khách quan, khoa học để nâng cao chất lượng của việc đánh giá tổ chức cơ sở đảng và đảng viên...
Ðặc biệt, chú trọng hơn việc phát hiện, biểu dương, khen thưởng những tổ chức đảng, những đảng viên có thành tích xuất sắc và có các biện pháp tuyên truyền, phổ biến nhân rộng các tấm gương điển hình đó.
(*)Theo cuốn: Ðảng Cộng sản Việt Nam 80 năm xây dựng và phát triển. Nxb Chính trị - Hành chính, H.2010.
(1) Xem Tạp chí Xây dựng Ðảng, số 9-2009, tr.51.
(2) Xem Tạp chí Xây dựng Ðảng, số 5-2009, tr.30-32.
(3) Xem Lịch sử Ðảng bộ tỉnh Quảng Ninh (1975-2005), t.4, tr.30.
(4) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H.2002, t.9, tr.285
TS HOÀNG VĂN TUỆ

Thứ Hai, 23 tháng 1, 2012

Dụng nhân, dụng mộc


           Con người là vốn quý của xã hội, đó là chân lý. Đã có nhiều câu châm ngôn kinh điển suy tôn vị trí bất khả thay thế về con người ở các lĩnh vực: Văn học là nhân học; con người là trung tâm nghiên cứu của triết học; con người là trung tâm của vũ trụ; con người sáng tạo ra vạn vật... 
           Ở mọi chế độ xã hội từ thời kỳ nguyên thủy sơ khai đến thời đại văn minh đều luôn chú ý đến nhân tố gìn giữ, phát triển xã hội, đó là nguồn nhân lực - những người là chủ thể sáng tạo, động lực phát triển khoa học tự nhiên, khoa học xã hội; góp phần cải tạo tự nhiên và hoàn thiện chính mình. Lịch sử dựng nước, giữ nước và xây dựng của Việt Nam đã có nhiều minh chứng hùng hồn về vai trò quần chúng và thủ lĩnh đã làm nên lịch sử, dạng danh non sông.
           Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước, chúng ta rất cần đội ngũ những người giỏi về quản lý, có nghề, thạo việc, chuyên sâu. Việc mở trường lớp dạy học, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý, chuyên môn, thợ giỏi là việc làm bắt buộc, thường xuyên và là nhân tố đầu tiên để có lớp thầy giỏi, thợ giỏi. Các nước tiên tiến có trình độ khoa học kỹ thuật cao đi trước chúng ta vài chục năm kinh nghiệm cũng đào tạo theo quy chuẩn trường lớp: Thầy dạy, trò học. Vấn đề là dạy như thế nào? Học như thế nào? Nhưng ta còn khác họ ở chỗ đó.
           Hiện nay, chúng ta còn đang yếu và thiếu về nguồn nhân lực chất lượng cao ở các ngành, các cấp từ cơ sở đến tỉnh, thành phố và bộ, ngành trung ương. Công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực còn nhiều bất cập. Cơ chế sử dụng, đãi ngộ còn chưa phù hợp với thay đổi linh hoạt của đời sống xã hội. Chúng ta còn lúng túng trong quản lý, phối hợp khai thác các công trình nghiên cứu khoa học (có nhiều công trình khoa học tốn tiền của, trí tuệ nhưng rồi chỉ xếp trong tủ), tận dụng chất xám của các cán bộ khoa học đầu ngành; chậm có cơ chế thu hút người có tay nghề cao, giỏi chuyên môn, chuyên gia làm việc và tạo thuận lợi để họ có cơ hội cống hiến. Lỗi cuối cùng đều đổ tại cơ chế. Thật lạ, địa phương nào cũng kêu ca bị trói buộc, ngày trước có anh "quan liêu bao cấp" mà đổ tội cho, vậy giờ đổ vào đầu ai đây?
           Nói về nhân lực, là bàn chuyện đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng con người. Đây là các khâu khép kín trong quá trình học tập, tu dưỡng, rèn luyện, làm việc, cống hiến của mỗi người lao động trong xã hội. Vì thế mối quan hệ tương tác giữa chủ thể, khách thể ở mỗi khâu (như nhà trường, ngành giáo dục - đào tạo; cơ quan, đơn vị, địa phương và người quản lý sử dụng lao động, chủ doanh nghiệp; hệ thống tổ chức cán bộ, cơ quan chủ quản...) có tác động rất lớn đến khâu đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng lao động.
Trong hệ thống giáo dục - đào tạo, các cấp học, ngành học phải thực hiện thật tốt 3 nhiệm vụ: Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Đây là nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài, mang tính chiến lược phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước mà sứ mạng này giao cho toàn hệ thống chính trị và cả xã hội cùng làm, chứ không thể là công việc riêng của ngành giáo dục - đào tạo. Vì vậy, giáo dục là sự nghiệp của toàn dân. Cả nước, cả dân tộc chung tay, chung sức nâng cao dân trí, mở mang trí tuệ qua các hệ thống đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng xã hội học tập.
           Đào tạo gắn với bồi dưỡng; đào tạo rồi phải có chương trình đào tạo bổ sung, đào tạo lại để luôn làm mới kiến thức cho nhân lực. Học tập cũng vậy. Học trường lớp, học xã hội, học gắn với hành, học trong quá trình lao động sản xuất, chiến đấu và phục vụ chiến đấu để không ngừng làm mới cho kiến thức cá nhân. Đâu phải ai cũng có điều kiện được học tập chính quy từ ghế nhà trường; các loại hình đào tạo, bồi dưỡng rất phong phú là cơ hội, là môi trường rộng mở để học tập, trau dồi kiến thức nghề nghiệp; học thầy, học bạn rất quan trọng, kể cả tự học. Xã hội hóa học tập, xây dựng xã hội học tập chính là tạo môi trường, là mảnh đất màu mỡ để phát triển sự nghiệp giáo dục toàn dân. Vì thế, chúng ta rất cần phải xác định thật chuẩn phương hướng, nhiệm vụ, quy mô đào tạo các loại hình lao động để cung cấp cho xã hội nguồn nhân lực chất lượng cao, tạo tiền đề phát triển kinh tế tri thức phục vụ sự nghiệp cách mạng thời kỳ mới.
          Thủ đô Hà Nội mở rộng, dân số đông là nguồn cung cấp lao động dồi dào. Hằng năm, Hà Nội có số nhân lực bước vào độ tuổi lao động tăng nhanh, cộng với lao động ở tỉnh khác vào thành phố (khoảng 100 ngàn người/năm) đang là thách thức với việc đào tạo lao động có tay nghề. Đồng thời, dự báo số nông dân không còn ruộng đất do đô thị hóa nhanh, số lao động chưa qua đào tạo cũng chiếm khoảng hơn 200 ngàn người/năm sẽ có nguy cơ mất việc hoặc thiếu việc làm. Thực tế cho thấy, quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa diễn ra khá nhanh, có địa phương khó kiểm soát đã kéo theo tình trạng nông dân thất nghiệp, bán thất nghiệp là điều khó tránh. Hà Nội và các tỉnh khác cũng trong bối cảnh này.
           Việc sử dụng lao động cũng là vấn đề bức xúc xã hội. Lớp trẻ không khỏi toan tính học gì? Học ngành nghề gì? Nhưng khó khăn vất vả bội phần là học xong sẽ được làm gì? Làm ở đâu? Cũng không thể trách cứ thanh niên thời nay là thực dụng, bởi "cơm áo không đùa với khách thơ", "Có thực mới vực được đạo". Mỗi người phải biết tự nuôi sống mình và gia đình thì mới tồn tại và phục vụ xã hội! Câu nói "Dụng nhân như dụng mộc" chính là ở chỗ này. Chất lượng nguồn nhân lực có được khai thức đúng lúc, đúng chỗ, đúng đối tượng để "gỗ nào vào việc ấy", mọi người mới phát huy hết sở trường, sở đoản phục vụ xã hội. Những năm qua, câu nói cửa miệng của người đi xin việc làm là "phải chạy"! Mà chạy ai, ai chạy, chắc không phải khó khăn gì không đoán biết mà nói ra thì thật khó, "Chuyện này như mây trên trời, nhìn thấy mà không cầm nắm được". Lỡ miệng nói ra là mất việc như bỡn! Nếu còn tình trạng xin - cho, tuyển lao động như ban ơn thì còn có người chạy chọt, dễ dàng nảy sinh tiêu cực, tham ô, tham nhũng!
          Chuyện xưa kể, quan Thái sư Trần Thủ Độ nổi tiếng anh minh khi chọn tướng, kẻ sỹ, gây dựng cơ nghiệp nhà Trần. Một lần, vợ ông là Linh từ Quốc mẫu Trần Thị Dung xin cho một người cháu họ làm chức quan "câu đương" (chức dịch thu thuế xã). Ông gọi người có ý định đút lót tiền bạc, chạy chức đó đến chỉ giáo: "Ngươi bất tài, muốn làm quan tắt, phải chặt đi một ngón chân để phân biệt với các quan khác". Người nọ lạy lục van xin để tránh cái nhục chạy chức quan trường. Lịch sử các triều đại phong kiến Việt Nam như Đinh, Lê, Lý, Trần... có nhiều tấm gương sáng về chọn tướng sỹ, hiền tài phò vua, giúp nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu đã phát huy tinh thần đại đoàn kết dân tộc, trọng kẻ sỹ, mến người tài giỏi để kháng chiến, kiến quốc, là bài học luôn mang tính thời sự về công tác cán bộ.
           "Hiền tài là nguyên khí quốc gia. Hiền tài chiếm số đông thì quốc gia hưng thịnh". Từ xa xưa, cha ông ta đã trọng dụng người quân tử tài năng như vật báu quốc gia, trọng người có học rộng, có đức độ. Trong xã hội, người tài giỏi thì có thể nhiều, nhưng đạt đến trình độ nhân tài (hiền tài) hẳn không phải nhiều. Việc sử dụng, đãi ngộ thầy giỏi, thợ giỏi, đặc biệt là nhân tài cũng cần có cơ chế phù hợp để có nhiều luồng "nguyên khí quốc gia", tạo ra vượng khí cho nước nhà hưng thịnh.
           Hà Nội chúng ta làm tốt công tác tổ chức cán bộ, tuyển dụng người giỏi, phù hợp với công việc phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa trong giai đoạn mới cũng chính là góp phần thực hiện Nghị quyết 11/NQ-TƯ của Bộ Chính trị về phương hướng, nhiệm vụ phát triển Thủ đô Hà Nội giai đoạn 2011-2020 để xây dựng Thủ đô Hà Nội văn hiến - hòa bình.
            Nguồn: Báo Hà Nội mới - Kiều Ngọc Kim

Chủ Nhật, 15 tháng 1, 2012

Ván cờ, chiếc váy và nhân cách


           Vừa rồi, báo chí xôn xao quanh việc cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sóc Trăng bắt hai quan chức của ngành giao thông vận tải tỉnh này về tội "đánh bạc". Hai vị quan này đã nhiều lần đánh cờ tướng ăn tiền, mỗi ván từ 1 đến 5 tỷ đồng. Số tiền cờ bạc họ đã nợ nhau tổng cộng 22 tỷ đồng.
            Trước đó không lâu, dư luận cũng bàn nhiều về... chiếc váy giá 840 triệu đồng của Đại sứ Du lịch Việt Nam. Người ta xì xào bàn tán xem nó là hàng "xịn" hay hàng "phếch" (fake), tức là thật hay giả. Tất cả các bài viết "nhảy" vào câu chuyện này đều quan tâm xem "xịn" hay "phếch" để khẳng định "đẳng cấp" của người đẹp, "xịn" thì giá bốn mươi ngàn đô la, còn "phếch" thì chỉ độ mươi ngàn. Y phục xứng kỳ đức mà, đã là "sao" ai lại dùng hàng "phếch".
            Cũng có nhiều người nghĩ các câu chuyện trên chỉ là ở chốn quan trường hay thuộc giới người của công chúng, là phù phiếm, tào lao. Nhưng không phải vậy. Dân gian có câu: "Kiếm tiền đã khó nhưng tiêu tiền còn khó hơn". Sự khác biệt ở chỗ kiếm tiền thuộc tài năng kinh tế, còn tiêu tiền lại thuộc phạm trù văn hóa. Người ta cũng nói, muốn biết một người thế nào, xem cách người ta kiếm tiền lúc túng khó và tiêu tiền lúc giàu sang sẽ hiểu. Ở nước ta, mấy năm gần đây, cơ chế đổi mới đã tạo cơ hội cho nhiều người vươn lên làm giàu, thậm chí rất giàu. Dĩ nhiên, làm giàu là quyền chính đáng, là điều rất đáng trân trọng. Và không phải ai giàu rồi cũng hợm hĩnh. Cách đây không lâu, khi ông Đoàn Nguyên Đức, được coi là một trong những người giàu nhất Việt Nam, bỏ ra hàng trăm tỷ đồng để mua máy bay riêng và thêm ra mỗi tháng vài trăm triệu đồng để "nuôi" chiếc máy bay ấy, đã có ý kiến cho rằng ông chơi trội để khoe tiền. Nhưng sự thật không hẳn vậy. Vì theo cách tính toán của ông Đức thì việc ông mua máy bay riêng là có lợi cho công việc làm ăn của ông. Hay nói cách khác, chiếc máy bay ấy là công cụ để đồng tiền của ông thêm sinh sôi nhiều hơn.
           Thế nhưng trong đời sống vẫn có những điều chẳng dễ lý giải. Nhà viết kịch Molière (Pháp) đã giễu cợt thói "trưởng giả học làm sang" trong vở kịch cùng tên của ông. Học để sang thì tốt nhưng học giả để sang giả thì đích thị là cái sang vô học. Tất cả mọi người, mọi tầng lớp đều có quyền học làm sang. Nhưng học thế nào cho sang lại là điều không dễ, có tiền và tiêu tiền búa xua không thể gọi là sang. Trong cuộc sống có rất nhiều người đã trở thành tấm gương sáng, những điển hình được xã hội tôn vinh về tài năng kiếm tiền (chân chính). Nhưng cũng thật trớ trêu là khi trở nên giàu có thì một số người lại trở thành những kẻ lố bịch và hợm hĩnh bởi cách tiêu tiền. Thế nên thực tế mới xảy ra chuyện rất đáng xấu hổ là nhiều "đại gia" lớn tiếng đấu giá làm từ thiện hàng tỷ đồng nhưng họ chỉ huênh hoang trước công luận để rồi sau đó "im thin thít, lặn mất tăm".
           So với mấy chục năm trước, cuộc sống của người Việt Nam bây giờ đã khác, đã đầy đủ hơn nhưng hỏi đã giàu chưa thì xin thưa: Chưa. Dù hằng ngày vẫn có nghe nói đến những món đồ xa xỉ này nọ, những chiếc xe bạc tỷ vẫn được nhập về, những bát phở tiền triệu, những nhà hàng, khách sạn xa hoa vẫn mọc lên, nhưng đó chỉ là cái váng mỏng ở thành thị. Còn số đông bà con lao động ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa vẫn cực nhọc lắm. Mới đây, nhà báo Trần Đăng Tuấn có dịp ngược về vùng cao Hà Giang và ông đã có được những trải nghiệm đầy xúc động, chứng kiến bữa ăn của hàng trăm đứa trẻ ở một ngôi trường, tất cả chúng chỉ ước mơ mỗi bữa ăn có một miếng thịt thôi còn chưa được, nói chi đến manh áo lành lặn. Trở về Hà Nội, ông Tuấn đã khởi động một việc tạm gọi là "dự án" mang cái tên cũng rất mộc mạc: Dự án "Cơm có thịt". Ông viết trên blog của mình: Chúng ta hãy đừng nghĩ nhiều về việc chúng ta có thể làm được bao nhiêu. Chúng ta hãy hình dung các bé, các em học sinh nội trú đang cùng ăn cơm với chúng ta và chúng ta gắp vào bát chúng một miếng thịt, miếng cá. Như hằng ngày chúng ta vẫn gắp vào bát cho em, con, cháu... của chúng ta quanh mâm cơm ấm áp của gia đình...
             Đó có phải là cách tiêu tiền ý nghĩa hay không, mỗi người đều có thể tự trả lời.
            Trở lại với hai câu chuyện trên. Quả thực nếu đem kể với những người nông dân đang hằng ngày bán mặt cho đất, bán lưng cho trời thì chắc hẳn chẳng ai tin lại có chiếc váy giá 840 triệu đồng, và càng không thể tin người ta có thể mang 5 tỷ đồng ra chỉ để mua vui bằng một ván cờ. Với ngần ấy tiền thậm chí có thể tạo một bước ngoặt cho cả một xã nghèo (nếu là 840 triệu đồng) hoặc một huyện nghèo (nếu là 5 tỷ đồng), chứ không thể so nó với những hộ nghèo nơi vùng sâu, vùng xa thu nhập trung bình có khi chỉ vài triệu đồng mỗi năm.
          Có thể so sánh như thế là khập khiễng, là cái nhìn hẹp hòi của sự nghèo khổ. Người ta có tiền thì có quyền tiêu theo cách của mình chứ. Nhưng vấn đề ở chỗ thế giới chúng ta đang phải chứng kiến việc nhiều người đang tiêu những đồng tiền một cách phung phí. Vung tay quá trán đang trở thành một khái niệm quen thuộc trong xã hội. Cuối năm 2011, truyền hình đưa tin về việc ra mắt một tổng cục nọ, có lẽ ít ai để ý trong tin là những hình ảnh bữa tiệc linh đình dễ đến hàng trăm khách được tổ chức ở khán phòng một khách sạn sang trọng. Đáng nói là cũng thời điểm ấy, dư luận đang nóng với những thông tin các doanh nghiệp lớn thuộc mảng quản lý của tổng cục này đang kinh doanh thua lỗ hàng nghìn tỷ đồng. Tại sao, thay vì một lễ công bố đình đám họ không tổ chức một buổi họp báo công bố quyết định thành lập, vừa hợp thông lệ, vừa đúng pháp luật, vẫn trang trọng và đặc biệt là tiết kiệm được một khoản tiền chắc chắn không nhỏ để chi tiêu cho những việc có ích khác.
           Thực tế hiện nay, tư duy "tiêu tiền Nhà nước không cần phải nghĩ" vẫn đang có nhiều cơ hội sống. Không khó để nhận ra những hành vi phung phí tiền công quỹ như mua sắm, sử dụng xe hơi đắt tiền; chi phí quá lớn cho hội nghị, tiếp khách, tặng quà, ăn uống; xây dựng trụ sở cơ quan quá mức cần thiết. Chỉ riêng cái bệnh thích phô trương ở nhiều cơ quan, ban, ngành thôi cũng đã là một sự phung phí không nhỏ. Có lẽ do thời buổi hội nhập nên cái gì người ta cũng thích to, thích hoành tráng, các địa phương từ cấp xã cho đến cấp tỉnh, hễ cứ có dịp là phải "kỷ niệm". Mà đã lễ thì phải làm cho mát mày mát mặt. Cấp xã, huyện thì đưa rước hội hè, cấp tỉnh cứ là phải đại lễ, phải truyền hình trực tiếp mới oách. Rồi cứ có cơ hội là người ta làm kỷ lục này, kỷ lục nọ, nhưng đằng sau kỷ lục là cái gì thì chẳng ai quan tâm. Từ chiếc bánh chưng lập kỷ lục lớn nhất Việt Nam bị ôi thiu không ai dám ăn, hàng tấn gạo, đỗ, thịt đành phải bỏ đi, đến những dự án đầu tư hàng chục tỷ đồng cũng đắp chiếu không hoạt động. Hay chuyện vị phó giám đốc sở nọ bị bắt quả tang đánh cờ ăn thua lên tới 5 tỷ đồng mỗi ván cũng đã khiến dư luận choáng váng. Rõ ràng, những cách tiêu tiền như thế là vô nghĩa và vô lối.
            Khi đọc những tranh cãi về chiếc váy, tôi cứ thắc mắc: Liệu có bao nhiêu người trăn trở về giá trị của nó cũng như cách ứng xử của chủ nhân? Đem câu chuyện ra kể với vợ chồng chị hàng nước ở đầu ngõ, chính câu trả lời có phần bàng quan của chị vợ lại khiến tôi thêm bối rối. Chị rằng: "Bác quan tâm đến chuyện ấy làm gì cho mệt. Người ta có tiền thì muốn thế nào chẳng được, ảnh hưởng gì đến mình đâu. Chứ cứ như em thì chiếc quần rách không mặc được cũng vẫn còn giá trị sử dụng".
            Vâng, chị hàng nước đã đặt mình ra ngoài cuộc nhưng câu nói của chị cũng ít nhiều đặt ra những suy nghĩ. Chuyện chiếc váy hay ván cờ của hai vị "quan liều" kia chỉ là cái cớ để ngẫm về văn hóa tiêu tiền của con người. Dù đó là tiền công hay của riêng thì cách chi tiêu nó cũng hàm chứa yếu tố văn hóa - đó là nhân cách!
                  Nguồn: Báo Hà Nội mới,  Đinh Tuấn Anh