Tìm kiếm

Thứ Năm, 13 tháng 8, 2015

Ai không từ nông thôn mà ra ?



Nguồn: Báo Tuổi trẻ ngày 11/08/2015
 Ly cà phê buổi sáng bỗng mất ngon khi bắt gặp dòng tin “2kg khoai lang bằng ly trà đá, đừng xiết nợ nông dân” trên báo. 
 Và đâu chỉ khoai lang, ở khu vực miền Tây, mấy ngày nay nông dân lại chết điếng vì sự rớt giá thê thảm của trái chanh.
Thoáng qua cái tít của tin “40kg chanh không bằng ổ bánh mì” khiến ai cũng phải nao lòng trước nỗi lận đận của người nông dân.
Và trước đó không lâu là sự tuột giá của hành tím, cà chua, của thanh long, dưa hấu ở nhiều vùng miền, tất cả đều là nỗi đau thua lỗ của những con người “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời”!
Đó là những câu chuyện cụ thể, nho nhỏ.
Còn ở tầm vĩ mô, thì đây: khảo sát về tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu và thay đổi trong nông thôn Việt Nam mà Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương (CIEM) vừa công bố thì GDP bình quân đầu người ở nông thôn Việt Nam nằm trong nhóm thấp nhất của khu vực Đông Nam Á (Tuổi Trẻ Online ngày 7-8-2015).
Không buồn sao được khi nhập vào quỹ đạo phát triển, không tiến thêm lên là tụt hậu chứ không phải là còn đứng được ở chỗ cũ!
Tuy đã có nhiều chính sách nhằm giúp người nông dân bớt cơ cực và sớm thoát khó nghèo nhưng tựu trung hiệu quả vẫn còn thấp.
Đã đến lúc phải đặt lại cán cân đầu tư cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn thích đáng, hợp lý và mạnh mẽ, quyết liệt hơn thay vì nhỏ lẻ, cầm chừng, chiếu lệ so với những ưu tiên quá mức cho thành thị, cho những dự án ở các khu vực khác tuy được có “luận chứng” tốt nhưng thực chất không mấy hiệu quả, thậm chí là lãng phí, vô bổ.
Phải xác nhận rõ rằng đầu tư cho khu vực “tam nông” là cách hiện đại hóa, công nghiệp hóa đất nước có hiệu quả cao. Rõ ràng là bao lâu nay chính khu vực này đã góp phần tích cực vào tiến trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước.
Vẫn biết các nhà nghiên cứu, các chuyên gia hoạch định chính sách vẫn làm việc để cho ra những giải pháp hỗ trợ cần thiết cho nông dân.
Nhưng đến nay thấy vẫn cần có phương cách trợ giá cho nông dân với một số sản phẩm chủ yếu mà họ bán ra và mua vào.
Sự hỗ trợ này tuy khó về kinh phí nhưng không quá lớn nếu không nói là khiêm tốn (so với các dự án trăm tỉ, nghìn tỉ nhưng chưa được coi là cần thiết, bức thiết) sẽ giúp người nông dân an tâm sản xuất, đưa năng suất lên, có hiệu ứng rất tốt, không chỉ giúp họ bớt cơ cực mà còn có cơ hội thoát nghèo, nhất là làm giàu khi gặp “chu kỳ” lên giá của những nông sản họ làm ra.
Rồi đến quỹ hỗ trợ phát triển khu vực “tam nông” từ đóng góp của khu vực công - thương. Được vậy đây sẽ là sự hỗ trợ công bằng, tình nghĩa bởi những gì mà khu vực “tam nông” đã góp phần cho giới công - thương.
Với các chủ nhà máy, khu công nghiệp, góp vào cho quỹ hỗ trợ này còn là sự bù trả cho khu vực “tam nông” từ những tác động bất lợi do việc kinh doanh, sản xuất của họ gây nên...
Còn nhiều việc cần làm cho khu vực “tam nông” nữa. Nhưng đó là việc của các cơ quan chuyên môn chuyên trách. Chỉ mong sao ngày càng ít đi, sớm không còn những thông tin buồn về người nông dân như “2kg khoai lang không bằng ly trà đá”, “40kg chanh không bằng ổ bánh mì”...
Bởi làm sao không day dứt trước cái nhìn buồn bã của người nông dân bên mớ nông sản được coi “bọt bèo” được làm ra từ mồ hôi và vốn liếng chắt chiu của họ, bởi trên đất nước ngày càng đô thị hóa này có mấy người không từ nông thôn mà ra?
HUỲNH VĂN MỸ
 Khoai lang tím chỉ còn 1.000 đồng/kg loại tốt, nhưng thương lái vẫn chê và không tới mua, trong khi khoai lang không trữ được lâu.
Ông Lê Văn Thuận - chủ tịch UBND huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long - cho biết nông dân trồng khoai lang tím trên địa bàn huyện bị thua lỗ hơn 25 tỉ đồng vì giá rớt thê thảm, chỉ còn 1.000 đồng/kg loại tốt, nhưng thương lái vẫn chê và không tới mua, trong khi khoai lang không trữ được lâu.
Theo ông Thuận, địa phương đã đề xuất với các ngân hàng không xiết nợ mà cho nông dân lưu nợ sang vụ sau, chỉ đóng lãi, tạo điều kiện cho họ yên tâm sản xuất, đồng thời khuyến cáo người dân không ào ạt trồng khoai lang tím, tìm hiểu kỹ đầu ra trước khi quyết định xuống giống.
 

Thứ Tư, 12 tháng 8, 2015

Đến thư mời cũng ghi là "Mật" thì còn gì để công khai

Trích nguồn: Báo Lao động, ngày 12/8/2015 của tác giả Xuân Hải
Phó Chủ tịch Quốc hội Huỳnh Ngọc Sơn đã nói như vậy khi cho ý kiến vào dự án Luật tiếp cận thông tin lần đầu tiên được Ủy ban thường vụ Quốc hội cho ý kiến sáng 12.8.
Đến giấy mời đi họp cũng ghi chữ Mật
Tại phiên họp, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hà Hùng Cường cho biết, đây là lần đầu tiên, dự án Luật tiếp cận thông tin được Ủy ban thường vụ Quốc hội cho ý kiến. Dự Luật Tiếp cận thông tin ra đời nhằm đảm bảo quyền cơ bản của công dân được Hiến pháp ghi nhận.
Cho ý kiến vào dự án Luật, Phó Chủ tịch Quốc hội Huỳnh Ngọc Sơn cho rằng đối với quy định đề cập quyền từ chối cung cấp thông tin (điều 20), dự luật rất mâu thuẫn với quyền tiếp cận thông tin của người dân. “Vì mới chỉ nói đến “có thể” ảnh hưởng đến an ninh hay đời tư thôi thì anh đã từ chối cung cấp thông tin rồi, vậy cái gì cũng lạm dụng nói là "có thể" để từ chối cung cấp thông tin như vậy thì quản lý thế nào. Quy định về trả lời tôi cũng không hiểu cơ quan trả lời thì trả lời đến mức độ nào. Thực tế tài liệu ghi mật tràn lan, thậm chí có thư mời đi họp cũng ghi chữ Mật” – Phó Chủ tịch Huỳnh Ngọc Sơn nói.
Phó Chủ tịch Quốc hội cũng cho rằng chính việc quy định chưa cụ thể, rõ ràng cũng gây khó cho người được yêu cầu cung cấp thông tin vì chỉ cần từ chối với lý do không phù hợp cũng có thể bị khởi kiện.
“Thông tin nào mật và mật đến khi nào để người ta biết còn trả lời chứ. Luật muốn mở ra cho người ta tiếp cận nhưng quy định chưa rõ. Ví dụ tình hình sức khoẻ của đồng chí Nguyễn Bá Thanh như thế nào, khi nào về nước thì cứ cung cấp bình thường chứ có gì đâu mà bí mật. Chính bí mật của mình làm phức tạp thêm tình hình. Do đó cần rà soát hết lại, phải rõ cái nào được cung cấp và không cung cấp thì luật ra mới khả thi” – Phó Chủ tịch Quốc hội lưu ý.
Thực tế tiếp cận thông tin của người dân còn hạn chế. Luật này ra đời nhằm điều chỉnh được thực tế đó trên tinh thần Hiến pháp 2013. Do đó, theo Chủ nhiệm Uỷ ban Pháp luật Phan Trung Lý, những gì hạn chế quyền tiếp cận thông tin của người dân phải ghi cụ thể trong luật.
“Luật này ra đời nhằm mở ra quyền tiếp cận thông tin của công dân, tạo thuận lợi cho người dân. Đến thư mời đi họp cũng ghi Mật như anh Sơn nói thì còn gì để công khai. Do đó cần có danh mục những loại thông tin không được cung cấp và thể hiện trong luật”, ông Lý nói.
Thông tin nào thì được cung cấp?
Chủ tịch Hội đồng Dân tộc của QH Ksor Phước cho rằng thông tin cung cấp là thông tin do cơ quan nhà nước tạo ra và đang nắm giữ chứ không bao gồm thông tin cơ quan đó đang có do nơi khác đưa đến, nghe có vẻ thuận nhưng thực tế không phải vậy.
Cơ quan nhà nước có thể không tạo ra thông tin nhưng lại có điều kiện nắm thông tin, đặc biệt là thông tin gốc thì người dân yêu cầu có cung cấp không? Chủ tịch Hội đồng Dân tộc của QH cho rằng quy định Văn phòng đoàn đại biểu Quốc hội chỉ cung cấp thông tin hoạt động của đoàn là quá hẹp. Vì họ có cả thông tin chương trình kỳ họp, kết quả kỳ họp Quốc hội. Không để một người đến Văn phòng đại biểu Quốc hội tỉnh Cà Mau hỏi lại bảo người ta về Văn phòng Quốc hội để có thông tin.
Ông Đào Trọng Thi - Chủ nhiệm Uỷ ban Văn hoá- Giáo dục- Thanh thiếu niên và Nhi đồng của QH nhấn mạnh, luật cần làm rõ thông tin nào cần phải cung cấp và ai cung cấp vì nếu đặt vấn đề không chính xác sẽ dẫn đến mâu thuẫn ngay trong luật.
“Dự thảo nói thông tin do cơ quan nhà nước tạo ra và nắm giữ, nhưng mở rộng ra một chút là thông tin do cơ quan nhà nước nắm giữ mà không phải do mình tạo ra là mâu thuẫn ngay. Ví dụ thông tin của đơn vị nào đó nếu không cung cấp cho cơ quan Nhà nước thì bí mật của người ta, còn khi cung cấp lại công khai nên có thể họ đối phó bằng cách không cung cấp”, ông Thi đặt vấn đề.
Cũng theo ông Đào Trọng Thi, nếu không xác định cụ thể thì sẽ tạo sự bất bình đẳng: “Tại sao học phí của trường công lập thì phải công bố còn tư thục thì không cung cấp mặc dù bản chất như nhau? Viện phí và các khoản tài chính của doanh nghiệp cũng vậy”. Do đó ông Thi đề nghị phải xác định loại thông tin gì liên quan đến lợi ích của người dân, cộng đồng, nhà nước thì phải cung cấp cho dù tạo ra từ nguồn nào, kể cả thuộc Nhà nước và không thuộc Nhà nước.

Thứ Ba, 9 tháng 9, 2014

Vô cảm - Cái chết từ trong tâm hồn



Thứ Hai 06:13 01/09/2014  - Hồ Quang Lợi, Báo Hà Nội mới
Trong y học không có bệnh vô cảm. Đó là căn bệnh của cách hành xử, căn bệnh của lối sống. Lời dạy của cha ông ta "Thương người như thể thương thân" từ lâu đã trở thành đạo lý của người Việt Nam. Tính nhân văn, lòng nhân ái phải là ngọn lửa sưởi ấm, là ánh sáng trong cuộc đời mỗi con người, mỗi gia đình cũng như toàn xã hội. Thế nhưng ngày nay, bên cạnh nhiều nét đẹp vẫn luôn hiện hữu trong cuộc sống của chúng ta với những con người luôn biết cống hiến, đồng cảm, chia sẻ, cưu mang, giúp đỡ người khác, thì cũng có không ít kẻ sống ích kỷ, vô trách nhiệm, vô cảm, vô đạo đức.
Vô cảm chính là sự trơ lì cảm xúc, dửng dưng, thờ ơ, "máu lạnh" với những hiện tượng đời sống xung quanh, chỉ quan tâm đến quyền lợi của bản thân. Ra đường gặp cái đẹp không mảy may rung động; gặp cái tốt không ủng hộ; thấy cái xấu, cái ác không dám lên án, không dám chống lại... Trước đây, vô cảm chỉ là những hiện tượng đơn lẻ, nhưng bây giờ đang có chiều hướng lây lan, nếu không có những biện pháp ngăn chặn thì có thể trở thành một căn bệnh có tính xã hội. Trong cơn lốc toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, cùng với việc tiếp thu những tinh hoa của văn minh nhân loại thì lối sống hưởng thụ và mặt trái của nền kinh tế thị trường đang tác động mạnh đến tâm lý xã hội, dần dần hình thành lối sống thực dụng trong một bộ phận người Việt Nam.
Người ta có thể thản nhiên đứng nhìn cảnh một kẻ mạnh ăn hiếp kẻ yếu; một vụ nữ sinh lột áo, giật tóc, đánh hội đồng; một vụ làm nhục người khác… như xem một màn kịch, lấy điện thoại ra quay rồi tung lên mạng. Người ta coi như không nhìn thấy kẻ gian móc túi trên xe buýt mặc dù việc đó xảy ra sờ sờ trước mắt. Từ những chuyện tranh cãi hay xô xát lặt vặt nhưng không ai lên tiếng can ngăn và thế là dẫn tới án mạng.
Tại sao người ta không can thiệp? Bởi người ta vô cảm trước nỗi đau của đồng loại. Bởi người ta sợ liên lụy, mang vạ vào thân.
Một bệnh nhân, hay nạn nhân được đưa tới bệnh viện, cho dù đang trong tình trạng thập tử nhất sinh, nhưng không được cứu chữa ngay vì còn chờ người nhà đến làm các thủ tục cần thiết, trong đó có cả thủ tục "đầu tiên", đến khi xong mọi thủ tục thì đâu còn người nữa để mà cứu chữa. Một vụ tai nạn trên đường vắng, nạn nhân nằm trên vũng máu, xe gây ra tai nạn đã bỏ chạy mất tăm, còn bao nhiêu xe khác vẫn vun vút lao qua vì "quá bận", "quá vội"…
Hằng ngày, trên các mặt báo hoặc trên các phương tiện thông tin đại chúng khác, người ta thấy tràn ngập các vụ việc thuộc loại " cướp, giết, hiếp" hay "tiền, tình, tù tội", nhiều vụ kinh hoàng, sởn gai ốc. Báo chí có tác dụng cảnh báo, nhưng đọc mãi thành quen, rồi chai sạn, thờ ơ trước những chuyện tày trời như thế. Không ít vụ việc phơi bày sự vô cảm đến tàn nhẫn của những người chứng kiến.
Thái độ ứng xử trước nỗi đau, tai họa của người khác là phản ứng tự nhiên mang tính người, là thước đo đạo đức, là sự sát hạch đạo đức xã hội một cách nghiêm khắc nhất. Trước nỗi đau, tai họa và bất công mà người khác phải chịu đựng, nhưng ai đó không phản ứng được tức là đã bị tê liệt về tinh thần xã hội. Đó là sự suy đồi về lối sống, suy thoái về đạo đức.
Như vậy, trên bình diện xã hội, bệnh vô cảm đã phản ánh sự suy giảm nền tảng đạo đức và tinh thần của xã hội. Khi sự gắn kết giữa người với người trong xã hội bị rạn nứt, thậm chí bị đứt gãy thì nó làm cho con người không dám tin vào điều thiện, không dám đứng lên chiến đấu chống cái xấu và cái ác. Vô cảm triệt tiêu tính tự phản ứng như một lẽ tự nhiên trước những tiêu cực, bất công, ngang trái.
Khi căn bệnh này không được ngăn chặn thì xã hội sẽ không tránh khỏi bị sụt lở nền tảng đạo đức và tinh thần, gây hoang mang, làm nảy nở cái xấu, cái ác. Trong những hoàn cảnh nhất định, cái thiện và cái tốt sẽ bị cái xấu, cái ác tấn công, xâm hại; lẽ phải bị triệt tiêu, công lý bị đẩy lùi.

Không chỉ người dân mà tầng lớp cán bộ - những "công bộc của dân" cũng mắc phải bệnh này. Trong hệ thống công quyền, nó thể hiện ở sự thờ ơ, ở các chiêu "đánh võng", gây khó khăn, gây cản trở, thấy việc cần phải làm nhưng không làm hoặc đặt ra những đòi hỏi trái khoáy, cố tình kéo dài để vụ lợi... khiến người dân, doanh nghiệp, các tổ chức xã hội khi đến hệ thống công quyền đều không hài lòng, thậm chí bất bình. Không thiếu những "công bộc" buộc dân phải đến trình bày lần này lượt khác, tìm cách vòi vĩnh rồi mới giải quyết. Thậm chí, có những người đang tâm ăn chặn của thương binh, gia đình chính sách, người tàn tật, hộ nghèo. Dư luận gần đây nóng lên sự vô cảm, tắc trách của nhân viên y tế dẫn đến những cái chết oan uổng của người dân. Muốn chữa bệnh thì phải trả tiền trước, có chút lót tay thì tiêm đỡ đau hơn, thay băng nhẹ nhàng hơn... Những vụ bảo mẫu ngược đãi, hành hạ trẻ thơ tại một số cơ sở nuôi dạy trẻ và bao nhiêu chuyện đau lòng khác trong ngành giáo dục, những tiêu cực trong ngành y tế, những vụ oan sai nghiêm trọng trong ngành tư pháp cho thấy bệnh vô cảm đang diễn ra cả trong những lĩnh vực cứu người, dạy người, bảo vệ công lý.
Như vậy, những hành vi vô cảm không chỉ đơn thuần làm hủy hoại nhân cách con người mà còn làm xói mòn nền tảng đạo đức, làm rối loạn trật tự xã hội và xa hơn nữa là kìm hãm sự phát triển của đất nước. Không khó nhận ra bệnh vô cảm, nhưng làm sao để chữa được bệnh thì không hề đơn giản. Sự mất lòng tin trong xã hội, sự ích kỷ, tính thực dụng trong lối sống của một bộ phận xã hội làm cho bệnh thêm nặng.
Để chữa trị căn bệnh "ung thư tâm hồn" này, cần phải kết hợp đồng bộ nhiều giải pháp. Trước hết phải tạo cho xã hội một sức đề kháng. Đó chính là việc xây dựng và không ngừng nhân lên những yếu tố tích cực trong xã hội. Một môi trường xã hội tốt, lành mạnh sẽ tạo được sức đề kháng cao với căn bệnh này. Ngược lại, trong một môi trường xã hội xấu, nơi mà tiêu cực lấn át tích cực thì bệnh vô cảm sẽ lây lan. Phải bền bỉ xây dựng văn hóa ứng xử, tạo đời sống tinh thần phong phú, mà ở đó các giá trị tinh thần, đạo đức của xã hội được xác lập rõ ràng, thể hiện mạnh mẽ, để ai làm những điều xấu cũng phải sợ, cũng phải ngại. Nếu cái tốt, cái thiện ở thế thượng phong, nếu ở đâu người tốt cũng biết đoàn kết, hợp lực tạo nên sức mạnh thì ở đó chắc chắn cái xấu, cái ác sẽ từng bước bị đẩy lùi, sự vô cảm sẽ mất dần đi.
Tất cả chúng ta đều phải day dứt trước câu hỏi: Bây giờ đời sống của người Việt Nam mình khấm khá hơn trước rất nhiều nhưng tại sao bệnh vô cảm lại nặng hơn? Như thế càng thấy rõ, không phải cứ nghèo là vô cảm, không phải cứ túng là làm liều. Thuốc chữa bệnh vô cảm nằm ở sự truyền phổ sâu sắc những giá trị truyền thống của dân tộc, thẩm thấu vào trong đời sống xã hội. Xã hội càng hiện đại thì những giá trị đó lại càng cần nhân rộng, không được để cho những làn sóng lai tạp, xô bồ che lấp, lấn át những giá trị truyền thống. Khi bệnh vô cảm trong xã hội càng lây lan thì sự gắn kết, tình người càng bị mai một. Xã hội cần có ngọn lửa nhân ái lan tỏa, những người hoạn nạn càng cần ngọn lửa nhân ái sưởi ấm họ. Đó chính là tiêu chí của một xã hội văn minh, một xã hội có đạo đức. Cuộc chiến chống bệnh vô cảm cần được triển khai trong từng gia đình, trước hết là giáo dục con cháu bằng các hành vi ứng xử mẫu mực của ông bà, cha mẹ, người lớn tuổi. Tôi đã từng được chứng kiến một việc đáng buồn: Hôm đó, chúng tôi đang đi trên đường phố thì thấy một cụ già gầy guộc, quần áo cáu bẩn, ngồi bên vỉa hè chìa tay xin ăn. Một cháu bé chừng 8 tuổi đi cùng với bố mẹ liền đưa cho cụ già gói bánh cháu đang cầm trên tay. Cụ già nói, giọng thều thào: Cảm ơn cháu. Lập tức, người mẹ sẵng giọng nói với cháu bé: "Ăn mày giả vờ đấy con ạ". Cháu bé ngơ ngác không hiểu mình đã làm sai điều gì.
Mặc dù xây dựng nền tảng đạo đức xã hội luôn là điều cốt yếu, nhưng cũng cần có những quy định pháp lý để chống bệnh vô cảm. Nếu thấy bệnh nhân nguy kịch mà nhân viên y tế từ chối việc cứu chữa thì dù với bất cứ lý do gì cũng phải bị xử lý nghiêm minh; nếu gặp người bị nạn trên đường mà không cứu giúp thì sẽ bị truy cứu với những chế tài riêng. Trách nhiệm công vụ thể hiện đạo đức công vụ, đạo đức xã hội. Đối với hệ thống công quyền, để trị bệnh vô cảm, cần cải cách hành chính một cách mạnh mẽ hơn, đưa ra những quy định khoa học, cụ thể, rõ ràng về trách nhiệm của từng người trong guồng máy công vụ để nếu một người không làm đúng chức trách của mình thì lập tức bị bật ra khỏi hệ thống. Nếu một nền hành chính được thực thi một cách khoa học thì dần dần sẽ tạo ra một thói quen, buộc những ai ở trong guồng máy cũng phải làm hết chức phận của mình.
Bên cạnh việc xây dựng một nền hành chính khoa học để quản trị tốt thì cần tăng cường giáo dục để cho những "công bộc" - những người ăn lương của Nhà nước bằng tiền đóng thuế của dân - phải cảm thấy mình có trách nhiệm đạo đức trong việc phục vụ dân; trước những đòi hỏi, những bức bách, thậm chí những bất hạnh của người dân thì không thể quay mặt làm ngơ. Và cần tăng cường thanh tra công vụ thường xuyên, bất chợt, đột xuất dưới nhiều hình thức khác nhau để bắt bệnh thật chính xác, kịp thời, từ đó sẽ thưởng phạt nghiêm minh.
Không gì có thể thay thế việc khơi dậy lòng nhân ái và dũng khí trong mỗi con người, tinh thần trách nhiệm và dũng khí của các cơ quan chức năng trước những ngang trái và bất công.
Cần xây dựng một xã hội đồng cảm và chia sẻ. Các hoạt động nhân đạo, từ thiện được triển khai rộng khắp ở các cấp là đang hướng tới một xã hội như vậy.
Một xã hội vô cảm sẽ là một "xã hội chết" - cái chết trước hết từ trong tâm hồn.

Tiền đề cho sự đổi mới



Thứ Tư 05:38 10/09/2014 (Nguồn Báo Hà Nội mới - Vũ Duy Thông)
 Cuối cùng thì sau một thời gian dài gần như được cả xã hội quan tâm chờ đợi, chiều qua Bộ GD-ĐT đã công bố phương án về kỳ thi quốc gia sẽ được tổ chức vào tháng 6-2015.
Dẫu vẫn còn một số ý kiến chưa thật sự đồng tình, song nhìn chung, có thể thấy phương án tổ chức kỳ thi quốc gia do Bộ GD-ĐT đưa ra lần này đáp ứng được cả hai tiêu chí của Chính phủ đưa ra và vì thế nhận được nhiều sự ủng hộ của dư luận. Cụ thể là với việc gộp cả 2 kỳ thi tốt nghiệp THPT và kỳ thi CĐ-ĐH (thậm chí nếu tính kỳ thi ĐH-CĐ là 2 kỳ thi riêng thì là 3 kỳ thi) thành 1 kỳ thi duy nhất mang tên kỳ thi quốc gia, với 4 môn thi trong đó có 3 môn bắt buộc và 1 môn tự chọn, phương án này không những sẽ giảm được sự rườm rà, tốn kém về vật chất, mà còn giúp vơi đi lo lắng, áp lực đối với thí sinh, phụ huynh và thậm chí là cả xã hội. Quy định sau khi đỗ kỳ thi quốc gia mới có thể đăng ký xét tuyển vào các trường ĐH, CĐ cũng sẽ giúp giảm rất nhiều hồ sơ ảo, đồng nghĩa với việc giảm cả sự chuẩn bị về người coi thi, chấm thi, phòng thi và nhiều lãng phí khác. Đáng kể là phương án thi này cũng đáp ứng được tiêu chí đánh giá đúng trình độ học vấn, năng lực của thí sinh, bảo đảm phân luồng mạnh cho các cấp học sau THPT. Bên cạnh đó, việc lựa chọn ngoại ngữ là môn thi bắt buộc rất có ý nghĩa trong việc đào tạo con người mới Việt Nam trong thời kỳ hội nhập…
Thi cử là một khâu trong quá trình học tập của một con người. Kỳ thi rất quan trọng nhưng cũng chỉ là đánh giá năng lực học tập của một giai đoạn mà thôi. Vấn đề quan trọng nhất không phải là tổ chức thi như thế nào mà là chất lượng của kỳ thi đó ra sao, có nghiêm túc, đánh giá chính xác trình độ học vấn, năng lực của thí sinh, có đáng tin cậy hay không. Kỳ thi càng căng thẳng, thiếu chính xác, thiếu minh bạch vô hình trung càng khuyến khích thái độ coi trọng bằng cấp, không coi trọng thực lực đang khá phổ biến trong xã hội. Vì vậy, dẫu không thể kỳ vọng phương án thi mới sẽ giải quyết được hết những vấn đề tồn tại lâu nay trong lĩnh vực GD-ĐT, song dù sao cũng có thể xem đây là một bước đột phá trong công tác đánh giá, tuyển sinh, một dấu mốc quan trọng trong tiến trình đổi mới nền giáo dục nước nhà.
Tuy nhiên, cũng có thể thấy rằng, với việc đặt mục tiêu quyền lợi của thí sinh và chất lượng tuyển sinh lên hàng đầu, ngành GD-ĐT đã chấp nhận "gánh" thêm những áp lực, khó khăn, đặc biệt là trong bối cảnh từ nay đến thời điểm diễn ra kỳ thi chỉ còn khoảng 10 tháng nữa. Do vậy, ngành GD-ĐT sẽ phải nỗ lực, phấn đấu hết mình để có một kỳ thi nghiêm túc, công bằng, bảo đảm sự tin cậy, tạo tiền đề cho việc tổ chức kỳ thi quốc gia trong những năm tiếp theo.