Tìm kiếm

Thứ Năm, 28 tháng 7, 2011

Giáo dục: XIN CHO TÔI NÓI THẲNG

1.     Giáo dục sa sút không phải vì thiếu tiền mà vì quản lý kém.
Sau một mùa thi THPT và ĐH-CĐ nặng nề, căng thẳng giả tạo và lãng phí vô lối, không có ở đâu ngoài Việt Nam trong thập niên đầu thế kỷ 21, trường học chưa kịp nghỉ ngơi cho lại sức đã bước vào khai giảng năm học mới, khởi động một chu kỳ khổ dịch đầy lo âu cho cả thầy lẫn trò.
Giữa lúc đời sống trăm mối tơ vò mà trên báo chí và các phương tiện truyền thông đại chúng đầy rẫy những bản tin chữ to nào là học phí cao, tiền trường leo thang, tiểu học công lập có nơi thu học phí 70-80 nghìn đồng/tháng, THCS, THPT vừa đầu năm học phụ huynh phải è cổ đóng góp cả chục khoản tiền “tự nguyện” bắt buộc. Trong khi đó chương trình học đã nhiều năm bị phê phán quá tải vẫn chưa hề giảm tải, sách giáo khoa sai sót đến mức đính chính không xuể vẫn cứ phải dùng, chương trình phân ban THPT bộc lộ bất cập ngay khi mới đưa ra thực hiện nhưng vẫn sẽ giữ nguyên cho đến 2015.
Khẩu hiệu “trường học thân thiện, học sinh tich cực” nghe thì hay, nhưng băn khoăn lớn là làm thế nào trong hai năm tới chấm dứt được nạn “đọc, chép” trong khi mọi thứ khác, từ chương trình, sách giáo khoa, tổ chức học tập cho đến thi cử và nhiều chuyện cốt lõi khác về tư duy giáo dục vẫn căn bản gần y nguyên như nửa thế kỷ trước. Thật xót xa khi học sinh được khuyên “học làm người trước khi học chữ” mà có nơi nhân danh chuẩn hóa giáo viên người ta buộc các thầy cô chưa đạt chuẩn phải đeo trước ngực tấm biển “giáo viên chưa đạt chuẩn” khi vào lớp. Quản lý thiếu nhân tính như thế tránh sao được những chuyện đau lòng như thầy bắt trò liếm ghế, trò tạt a-xit thầy, học sinh lớp 11-12 đâm chém nhau ngay trước cổng trường, v.v. Nói chống bệnh thành tích mà trước kia tỉ lệ tốt nghiệp phổ thông đạt trên 90%, nay sau hai năm thi cử nghiêm túc hơn, tỉ lệ đó cũng đã dần dần trở lại xấp xỉ … 90%, không biết phép lạ nào đã nâng cao chất lượng học tập nhanh chóng như vậy.
Sự sa sút của giáo dục có nguyên nhân khách quan: do đất nước nghèo, đầu tư không đủ, do trình độ non yếu của thầy cô giáo, do ý thức người dân lạc hậu, do phụ huynh cũng là “đồng tác giả” của nhiều sai lầm yếu kém của giáo dục, v.v. Đương nhiên tất cả những nguyên nhân này đều đúng. Song muốn lay chuyển tình hình phải thừa nhận nguyên nhân chủ yếu, nguyên nhân của mọi nguyên nhân, đó là lãnh đạo, quản lý bất cập, bất cập cả tâm lẫn tầm và từ trên xuống dưới.
Giáo dục phổ thông đã thế, giáo dục đại học, cao đẳng còn nhiều chuyện ly kỳ hơn: khắp nước, kể cả đại học quốc gia, tràn lan và bát nháo “đào tạo liên kết”, môn học một học kỳ chỉ cần 3-4 ngày xong hết cả học và thi, nên ai cũng học được, trường trung cấp cũng đào tạo thạc sĩ là chuyện hi hữu trên thế giới. Hóa ra ta hiểu đại chúng hóa, thị trường hóa đại học là thế. Chẳng lạ gì chỉ trong vài năm đã xuất hiện hàng mấy trăm đại học mới, lại sắp có cả Văn miếu hiện đại xây dựng trên 25 ha đất cho đủ chỗ vinh danh hết tiến sĩ thời nay. Lạ nhất là đề án tiến sĩ hóa, thạc sĩ hóa 100% cán bộ công chức của Thủ đô để “đột phá tư duy lãnh đạo” (may mà kế hoạch này đã tạm rút lại sau khi bị phản đối kịch liệt). Cái não trạng sính bằng cấp và thói hư học thâm căn cố đế bị lợi dụng triệt để, biến kinh doanh chữ nghĩa thành một nghề phát đạt chưa từng thấy: trường công chiêu sinh “ngoài ngân sách” một số lượng lớn sinh viên với học phí gấp mấy lần bình thường, rồi nay mai theo xu hướng đó sẽ tiến lên cổ phần hóa theo chiến lược đổi mới đại học của Bộ GD-ĐT; trường tư được tự do chạy theo lợi nhuận, bất kể chất lượng nào chỉ cần trưng biển “đại học quốc tế …” tha hồ đặt ra những khoản thu kỳ dị bóc lột người học. Gần 4 trăm đại học chỉ mới thỏa mãn được chưa đến 20% yêu cầu, trong lúc đó trường nghề tuy rất it vẫn sống ngắc ngoải vì ai cũng chỉ muốn làm thầy, hoặc làm công bộc của dân, không ai thich làm thợ. Có nơi như ở Dung Quất nhà máy cần rất nhiều thợ hàn, mở lớp đào tạo được một khóa 160 người đã đóng cửa, dù đời sống người dân địa phương vẫn rất lam lũ do không có nghề sau khi nhường đất xây dựng khu công nghiệp.
Các quan chức giáo dục bảo những hiện tượng không hay chỉ là riêng lẻ, và để cho công bằng phải nhắc đến biết bao gương tốt hàng ngày vẫn âm thầm diễn ra. Đúng thế thật, song tiếc thay điều đó chỉ càng nói lên khoảng cách lớn giữa tiềm năng với thực tế -- một khoảng cách không thể chấp nhận được mà nguyên nhân, như Chính Phủ đã chỉ rõ gần đây, là do quản lý bất cập. Có nghĩa sự sa sút của giáo dục không thể đổ cho khách quan, do đất nước nghèo, đầu tư không đủ, do trình độ non yếu của thầy cô giáo, do ý thức người dân lạc hậu, do phụ huynh cũng là “đồng tác giả” của nhiều sai lầm yếu kém của giáo dục, v.v. Đương nhiên tất cả những nguyên nhân này đều đúng. Song muốn lay chuyển tình hình phải thừa nhận nguyên nhân chủ yếu, nguyên nhân của mọi nguyên nhân, đó là lãnh đạo, quản lý bất cập, bất cập cả tâm lẫn tầm và từ trên xuống dưới.
 2. Cần cải cách có hệ thống, chứ không phải đổi mới vụn vặt
Nói cho đúng, thực trạng giáo dục như thế nào đã rõ như ban ngày, chẳng qua chúng ta mê ngủ nên chưa thấy, hoặc có thấy nhưng vì những ràng buộc, áp lực nào đó nên cứ phải bịt mắt, giả mê để tự dối mình, dối người khác và yên vị.
Giờ là lúc cần trung thực nhìn thẳng vào sự thật. Đó là lương tâm, là trách nhiệm chẳng những đối với xã hội hiện tại mà còn đối với lịch sử, đối với nhiều thế hệ mai sau. Những ai thường hô hào học sinh trung thực xin trước hết hãy tỏ rõ sự trung thực ở đây, trong việc này.
Xin cảnh báo: tình hình giáo dục hiện nay cũng tương tự như tình hình kinh tế xã hội của đất nước giữa những năm 80 thế kỷ trước. Thử tưởng tượng lúc đó nếu chúng ta cứ một mực nhắm mắt trước thực tế đời sống bi đát của người dân mà không đổi mới thì đất nước có tồn tại được đến ngày nay không ? Rõ ràng chỉ nhờ nhìn thẳng vào khủng hoảng kinh tế xã hội chúng ta mới thấy được giải pháp, mới có đầy đủ quyết tâm thoát ra bế tắc, cứu đất nước khỏi sự sụp đổ.
Thật đáng tiếc ngành giáo dục chưa học được bao nhiêu bài học đắt giá đó. Hai mươi năm qua, hết đời bộ trưởng này đến đời bộ trưởng khác vẫn tiếp tục ca cái điệp khúc “thành tựu giáo dục là vĩ đại, bên cạnh đó còn nhiều bất cập”. Căn nhà giáo dục đã cũ nát thảm hại nhưng cứ loay hoay nay cơi nới chỗ này, mai sửa chữa chỗ kia, rốt cuộc thành ra căn nhà dị dạng chẳng ai muốn ở. Gia đình nào có khả năng đều tìm cách gửi con em ra nước ngoài để chạy trốn giáo dục trong nước. Chẳng thế mà có người nói vui nhưng thật cay đắng: nên có luật cấm quan chức cấp cao gửi con em du học nước ngoài thì may ra giáo dục mới có cơ hội được chấn hưng.
Điều rất lạ là các nghị quyết của Đại Hội Đảng và các Hội Nghị TƯ 3,7,9 đều đòi hỏi phải tiến hành cải cách giáo dục như một yêu cầu bức thiết của xã hội, nhưng những vị nhận lĩnh trách nhiệm trực tiếp thì lại chẳng hề quan tâm thực hiện các nghị quyết ấy, thậm chí còn nói ngược lại. Chiến lược giáo dục dự thảo đến lần thứ 15 vẫn chỉ thấy lặp lại những quan niệm, tư duy cũ rích, tuy ngôn từ và số liệu có thay đổi cho hợp thời trang (như từ “đổi mới” xuất hiện với tần số kỷ lục). Bên cạnh đó, có những mục tiêu nghe thật hoành tráng, nào là từ nay đến 2020 (tức trong 11 năm tới) đào tạo 20000 tiến sĩ, xây dựng 4 trường đại học đẳng cấp quốc tế, 1 trường vào tốp 200 thế giới, v.v…. Song người dân vẫn phân vân: 3 năm qua ta đã làm được gì mà có thể đặt kỳ vọng cao như thế cho 11 năm tới ? hay là ta đang mơ mộng thiếu thực tế, thiếu trách nhiệm, và căn bệnh thành tích từ ngoài da đã đi vào xương tủy?
Những “đổi mới” trong các đề án công tác của ngành giáo dục, giỏi lắm cũng chỉ cho ta một nền giáo dục tốt theo chuẩn mực… nửa thế kỷ 20, chứ không thể biến nó thành một nền giáo dục hiện đại ở thế kỷ 21. Cứ xem bản chiến lược giáo dục 2009-2020 thì rõ: ví thử chiến lược này được thực hiện đầy đủ (điều khó thể), thì đến 2020 Việt Nam cũng chỉ có một nền giáo dục kiểu 1950, lạc hậu, còn xa mới hòa nhập được vào nền văn minh thời đại.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã từng nhiều lần đỏi hỏi phải thực hiện những biến đổi có tính cách mạng để chấn hưng giáo dục. Trong một bài viết đăng trên báo “Tiền Phong” số 25 ngày 18-6-2006, cố GS Lê Văn Giạng, một cựu lãnh đạo có uy tín của ngành đại học, cũng đã phát biểu: “Đã đến lúc phải chuẩn bị tiến hành một cuộc cải cách giáo dục thực sự nghiêm túc và thực sự khoa học để ra khỏi tình hình khủng hoảng triền miên của giáo dục 20 năm vừa rồi, để bước vào thời kỳ chấn hưng giáo dục như Nghị quyết của Đại Hội Đảng X vừa yêu cầu” . Đó là chưa kể nhiều kiến nghị tương tự của nhiều bậc thức giả trong nước và Việt kiêu, đặc biệt bản điều trần của 24 trí thức năm 2004 và bản kiến nghị đầu năm 2009 của Viện Nghiên cứu Phát triển IDS (nay đã giải thể). Thiết nghĩ chỉ những ai điếc không sợ súng hoặc quá vô tâm với đất nước mới có thể yên lòng trước tình hình giáo dục hiện nay.
Có ý kiến biện bạch rằng hàng loạt cải tiến, đổi mới lớn nhỏ mà ngành giáo dục đang thực hiện cũng là cải cách. Phải công nhận hai chữ “đổi mới” nhan nhản trong hầu hết các đề án công tác của ngành giáo dục, nào là đổi mới nội dung, phương pháp và quy trình đào tạo, đổi mới cơ chế quản lý, đổi mới cơ chế tài chính, đổi mới phương thức triển khai hoạt động khoa học công nghệ, v.v. Chỉ có điều đổi mới thế nào thì chẳng ai giải thich nổi, chẳng ai biết rõ, cho nên cứ đổi mới tùy hứng, tùy tiện, tùy nghi, theo kiểu đầu Ngô mình Sở. Vả chăng cần thấy rằng cái cày chìa vôi dù có cải tiến giỏi đến đâu vẫn không thể biến thành cái máy cày hiện đại được; căn nhà tập thể thời bao cấp dù sửa chữa tân tạo hết mức vẫn không thể thành một chung cư tiện nghi hiện đại. Những “đổi mới” như thế kia giỏi lắm cũng chỉ cho ta một nền giáo dục tốt theo chuẩn mực… nửa thế kỷ 20, chứ không thể biến nó thành một nền giáo dục hiện đại ở thế kỷ 21. Cứ xem bản chiến lược giáo dục 2009-2020 thì rõ: ví thử chiến lược này được thực hiện đầy đủ (điều khó thể), thì đến 2020 Việt Nam cũng chỉ có một nền giáo dục kiểu 1950, lạc hậu, còn xa mới hòa nhập được vào nền văn minh thời đại.
3. Giáo dục không phải là phòng thí nghiệm, càng không thể là nơi để học việc lãnh đạo.
Từ lâu ngành giáo dục đã có thói quen xem học sinh như những con chuột bạch để làm thí nghiệm thoải mái, mà điển hình là mười mấy năm liền thí nghiệm các chương trình phân ban trung học phổ thông. Thí nghiệm đi thí nghiệm lại không biết bao nhiêu lần, tốn kém bạc tỉ và không tính được hết thiệt hại cho các thế hệ học sinh nạn nhân thí nghiệm. Rất khó hiểu tại sao lợi ích của học sinh bị xem thường đến vậy. Thử nghĩ có hãng hàng không nào dám mạo hiểm đưa máy bay mới ra chỉ để thí điểm xem chở khách có an toàn không? Vậy tại sao Bộ GD-ĐT có quyền thực hiện thí điểm các chương trình phân ban cho hàng nghìn, thậm chí hàng vạn học sinh trong cả hơn chục năm trời ? Mỗi lần thí điểm đều kết luận chưa thành công, kết quả chưa tốt, thế mà người ta vẫn vô tư tiếp tục thí điểm.
Quan điểm coi thường lợi ích của xã hội thể hiện trong nhiều chủ trương giáo dục mà nếu mô tả là “ngoan cố” có lẽ cũng không sai lắm. Về hàng loạt vấn đề quan trọng như quy chế công nhận, bổ nhiệm GS, PGS, quy chế tổ chức Hội Đồng Giáo Dục Quốc Gia, chuyện biên soạn, xuât bản và phát hành sách giáo khoa, chuyện thi cử, đào tạo Tiến Sĩ, Thạc Sĩ, v.v… đã có biết bao đề xuất hợp lý bị bỏ ngoài tai, phải chờ đợi đến cả chục năm trời hay hơn mới được nghiên cứu để tiếp thu. Có người khen Bộ GD-ĐT “trơ như đá, vững như đồng”, nhưng dù bậc trí lự cao siêu cũng không thể luôn luôn sáng suốt. Huống chi, nhìn vào bảng chi tiêu của ngành giáo dục thấy quá nhiều khoản chi lớn để “nâng cấp năng lực quản lý”, cử cán bộ đi tham quan, học tập kinh nghiệm ở các nước, chứng tỏ điều ngược lại có lẽ đúng hơn.
Như đã nói trên, nguyên nhân sa sút của giáo dục là quản lý yếu kém, song cần nói cụ thể hơn là quản lý yếu kém như thế nào. Trong chiến tranh chống Pháp rồi chống Mỹ, giữa muôn vàn khó khăn, giáo dục nói chung và đại học nói riêng vẫn phát triển tốt là nhờ có được những vị tư lệnh hiểu biết sâu sắc giáo dục, có tầm nhìn xa, có uy tín cao trong ngành về cả đức độ và tài năng. Sau này chúng ta thường xuyên gặp khó khăn cũng chính là vì tâm và tầm của cơ quan quản lý giáo dục. Nếu xem giáo dục là quốc sách hàng đầu thì phải hết sức coi trọng nhiệm vụ lãnh đạo giáo dục. Người được giao phó nhiệm vụ này chẳng những phải hiểu biết sâu sắc giáo dục hiện đại mà còn phải có điều kiện tập trung toàn tâm toàn ý cho nhiệm vụ ấy. Không thể xem giáo dục là nơi học việc lãnh đạo, không thể giao những nhiệm vụ quan trọng trong quản lý giáo dục cho những người chưa biết việc, chưa thạo việc. Còn nếu ai chưa thạo việc, chưa biết việc thì hãy để họ học việc thành thạo rồi hãy giao việc.
Đáng lo là ở nước ta có quá nhiều vị được giao nhiệm vụ rồi mới học việc, có khi học việc chưa xong chỗ này đã chuyển sang học việc chỗ khác quan trọng hơn, rốt cuộc biến mỗi ngành công tác thành một phòng thí nghiệm đồ sộ, một nơi thực tập, học việc cực kỳ tốn kém cho xã hội.
Có những câu hỏi thật khó trả lời: tại sao sau ba mươi năm mà các quy chế đào tạo tiến sĩ, thạc sĩ, hay công nhận, bổ nhiệm GS, PGS của ta vẫn còn nhiều điểm ấu trĩ so với ngay cả một số nước trong khu vực ? Tại sao nhiều quy định sai lầm đến buồn cười trong các quy chế ấy vẫn tồn tại dai dẳng thời gian dài trước đây và có nhiều cái tồn tại mãi đến tận hôm nay ? Có người bảo rằng ta không thể máy móc sao chép cách làm của nước ngoài cho nên phải sáng tác cách làm riêng phù hợp với điều kiện của ta. Nghe rất có lý, nhưng phải xét hậu quả thực tế là với cách quản lý ấy ta đã đào tạo ra hàng ngàn tiến sĩ giấy và xây dựng được một đội ngũ PGS, GS với trình độ, chất lượng ra sao ai cũng biết. Ngay gần đây tôi được biết chúng ta có cả những cơ sở đào tạo tiến sĩ về quản lý giáo dục. Cái tin ấy thật sự làm tôi ngỡ ngàng: rồi đây số tiến sĩ ấy đương nhiên sẽ đóng góp vào con số 20000 tiến sĩ ta dự định đào tạo trong 11 năm tới.
Trong giáo dục, khoa học có những vấn đề mà tranh luận cả ngày cũng không kết luận nổi, nếu vốn hiểu biết và vốn văn hóa phổ quát quá khác nhau. Cho nên cần, rất cần chờ đợi và lắng nghe nhau, song trước hết phải được thẳng thắn trao đổi ý kiến.
                                                                                                                                 Hoàng Tụy

THƯ ĐẾN GS HOÀNG TỤY: KHÔNG THỂ IM LẶNG ĐƯỢC, THƯA THẦY!

           Thưa thầy, xin cho phép con được xưng hô với Giáo sư như một người học trò xưng hô với thầy giáo của mình. Có thể cách xưng hô trên chưa thể hiện hết được mức độ tôn kính mà bao thế hệ chúng con dành cho thầy. Nếu có điều gì chưa được hài lòng mong thầy lượng thứ.
          Thưa thầy, có lẽ những ngày này, thầy đang rất phiền muộn vì đang có những vụ việc xảy ra liên tiếp ngoài ý muốn của thầy. Trong đó, bài viết về giáo dục của thầy đăng trên trang mạng Tia sáng đã khiến cho trang mạng này bị đình bản, bị xóa cả tên miền như phỏng đoán của thầy trong lá thư gửi đến bạn bè cách đây vài hôm. Đúng là chuyện đáng buồn thật! Bởi một tờ báo đầy uy tín như Tia sáng đã… vụt tắt và không ít bạn bè của thầy bị liên lụy.
          Nhưng thưa thầy, sẽ thật đáng buồn hơn, thậm chí là rất đau buồn nếu những trí thức đáng kính, đầy uy tín, tài năng như thầy lại chấp nhận “im lặng đáng sợ” trong thời gian tới. Chúng con thấu hiểu những khó khăn và ưu tư của thầy khi quyết định “im lặng đáng sợ”. Nhưng sứ mạng của một nhà giáo là không thể im lặng, và càng không thể im lặng trước những nguy cơ đe dọa đến sự nghiệp giáo dục của nước nhà. Nếu những người như thầy không lên tiếng thì sứ mạng này sẽ thuộc về ai? Những ai có đủ tâm, đủ tầm để lên tiếng? Và đến khi nào thì họ sẽ lên tiếng?
          Chúng con đã từng sáng ra rất nhiều, những người làm công tác giáo dục nước nhà có lẽ cũng sáng ra ít nhiều từ những ý kiến mạnh mẽ đầy sức thuyết phục của thầy về giáo dục của nước nhà. Còn nhớ năm 2005, khi thầy cùng 23 nhà giáo khác “dâng sớ” yêu cầu Chính phủ cải cách và hiện đại hóa giáo dục, sự kiện này đã được “mọi người đồng thuận hưởng ứng” ( theo cách dùng từ của báo Tuổi trẻ lúc bấy giờ). Từ đó, diễn đàn “chấn hưng giáo dục – mệnh lệnh từ cuộc sống” của báo Tuổi trẻ ra đời, đến nay nó vẫn còn là một phần chính trong mục giáo dục của tờ báo này để đóng góp ý kiến, ý tưởng cho giáo dục. Dù kết quả có thể chưa được như ý của thầy và các nhà giáo đã “dâng sớ”, nhưng chắc chắn nó đã giúp cho giáo dục Việt Nam kiềm chế mức độ chệch hướng, đồng thời giúp cho những người làm công tác giáo dục chịu khó nhìn trước ngó sau hơn khi thực hiện các quyết định của mình.
          Sau đó một thời gian, ông Nguyễn Thiện Nhân được cử làm Bộ trưởng Bộ Giáo dục, lúc đó dường như ông thể hiện quyết tâm làm một Bộ trưởng Giáo dục thật sự. Ngày 02/7/2006, Bộ trưởng gửi thư đến báo Tuổi trẻ để cam kết với bạn đọc rằng, “10 năm tới, giáo dục Việt Nam sẽ khác”. Giờ đây đã hơn 3 năm trôi qua, thầy và những người quan tâm đến giáo dục Việt Nam đã cảm thấy sốt ruột, bởi con thuyền giáo dục nước nhà vẫn cứ như đang tròng trành long đong giữa biển khơi mà chưa thể tìm được hướng đến bến đỗ! Bài viết “Giáo dục, xin cho tôi hỏi thẳng” thể hiện sự suốt ruột đó chăng?
          Thưa thầy, bức tranh giáo dục Việt Nam có gam màu sáng hay tối không hẳn là điều gì đó quá bí mật trong suy nghĩ đối với đại đa số người Việt Nam hôm nay. Tuy nhiên chúng ta cần những người vén bức màn đang che phủ bức tranh đó để dân tộc chúng ta có dịp nhìn thẳng vào sự thật chứ không chỉ là sự mường tượng chung chung. Bức tranh đó cần được đưa ra ánh sáng để những ai vô cảm hay cố tình dùng giáo dục như một phương tiện cho những mục đích cá nhân phải ít nhiều chùn bước, những ai còn cố bám víu vào hào quang giả tạo của nền giáo dục hiện nay phải tỉnh ngộ.
          Những người lãnh nhận sứ mạng phản biện và đổi mới sự nghiệp giáo dục hiện nay của đất nước buộc phải đối đầu với những khó khăn muộn phiền, thậm chí nguy hiểm. Nhưng nếu không phải là những người như thầy, không phải là bây giờ, thì ai và khi nào chúng ta đưa ra những thông điệp đổi mới cho giáo dục? Thế hệ chúng con hôm nay có lẽ vẫn còn cần sự chia sẻ và gánh vác gánh nặng này của các thầy thêm một thời gian nữa, dù biết rằng đáng lý ra ở cái tuổi “xưa nay hiếm” thầy đã có thể vui vẻ hưởng tuổi già.
          Một “Tia sáng” bị dập tắt bởi không được phép sáng hay không có điều kiện để sáng đã là điều đáng suy nghĩ. Nhưng nếu hàng triệu “tia sáng” trong mỗi trái tim con người Việt Nam chúng ta “tự nguyện tắt” thì đó là dấu chấm hết cho một dân tộc, thưa thầy!
                                                                                                                                                                          Hoài Nam

BÀI PHÁT BIỂU CỦA GIÁO SƯ HOÀNG TỤY VỀ GIÁO DỤC

Bà Nguyễn Thị Bình (bìa phải) - nguyên phó chủ tịch nước CHXHCN VN - chủ tịch Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh - trao giải thưởng “Giáo dục” cho GS Hoàng Tụy
                 Thật là vinh dự lớn cho một người làm khoa học bình thường như tôi được nhận giải thưởng văn hoá Phan Châu Trinh cao quý. Vinh dự lớn trước hết vì giải thưởng gắn liền với tên tuổi một nhà ái quốc vĩ đại của dân tộc, một sĩ phu thuộc lớp cựu học nhưng đã thoát ra khỏi những quan niệm giáo dục phong kiến cổ hủ đương thời, khởi xướng đường lối canh tân văn hoá, giáo dục để cứu nước: khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh. Vinh dự lớn còn là không phải giải thưởng hay huân chương trong hệ thống hành chính Nhà Nước mà là giải thưởng được trao cho bởi một tổ chức xã hội dân sự, với ý nghĩa cao quý thúc đẩy sự nghiệp văn hoá giáo dục của nước nhà theo tinh thần khai sáng của nhà ái quốc vĩ đại.
Làm khoa học ở một đất nước nghèo khó tôi vốn có duyên nợ nhiều với giáo dục. Xuất thân là một thầy giáo trung học rồi dần dần tự mày mò học tập, nâng cao trình độ mà trưởng thành trong nghề và trở thành một nhà khoa học. Bắt đầu dạy học ở tuôi 20, đến nay đã ngoài 80, suốt hơn 60 năm đó tôi chưa lúc nào xa rời nghề dạy học, tuy học trò của tôi thì tuổi tác, tính chất, trình độ và cả quốc tich cũng ngày càng đa dạng. Được may mắn (chứ không phải rủi ro) học phổ thông ở nhà trường thời thực dân (nhưng không phải nhà trường thực dân), ra đời cũng được đi đây đi đó học, dạy, làm việc trong những môi trường đại học khoáng đạt hiện đại từ Tây sang Đông trên thế giới nên tôi thường có dịp suy ngẫm về nghề nghiệp của mình. Suy ngẫm từ vị trí công dân một nước nghèo, lạc hậu, khát khao mau chóng đuổi kịp một nhân loại đang rộn rịp chuyển lên nền văn minh trí tuệ đầy thách thức. Điều đó tự nhiên dẫn đến mối quan tâm trăn trở gần như thường trực đối với nền giáo dục của nước nhà. Mà cũng từ đó được mở rộng tầm mắt, có cách nhìn hệ thống đối với nhiều vấn đề giáo dục, kinh tế, văn hoá, xã hội của đất nước. Hồi còn anh Tạ Quang Bửu làm Bộ trưởng Đại Học tôi đã có nhiều dịp nghiên cứu và trình bày về tư duy hệ thống trong các xêmina giáo dục do anh ấy chủ trì. Những tư tưởng, quan niệm của tôi về giáo dục, văn hoá, kinh tế xã hội ngay từ những ngày ấy phần lớn đều xuất phát từ cách nhìn hệ thống đó cho nên ít nhiều cũng có tính hệ thống nhất quán, nếu có lúc cần thay đổi thì cũng do logic sự vật chứ không tuỳ hứng, tuỳ tiện, tuỳ thời.
Một thế kỷ nay chưa bao giờ vai trò then chốt của giáo dục trong sự phát triển của dân tộc ta nổi rõ như lúc này. Chỉ trong vòng một thế hệ mà những bước tiến khổng lồ của khoa học và công nghệ đã mang đến cho cuộc sống trên hành tinh những đổi thay sâu sắc hơn cả hàng trăm năm. Trong bối cảnh ấy giáo dục càng quan trọng thiết yếu hơn bao giờ hết cho bất cứ xã hội nào, kể cả những xã hội tân tiến nhất.
Việt Nam không là một ngoại lệ. Nên dù trước mắt kinh tế có khó khăn bức bách bao nhiêu cũng không cho phép chúng ta một phút được lơ là các vấn đề giáo dục. Chừng nào giáo dục còn yếu kém tụt hậu như hiện nay thì dẫu có tăng trưởng kinh tế giữ được tốc độ 7-8%, thậm chí 10% năm chăng nữa đất nước cũng vẫn mãi mãi lẹt đẹt sau thiên hạ. Muốn tăng trưởng kinh tế bền vững, muốn chuyển hướng phát triển từ chiều rộng sang chiều sâu mà để giáo dục yếu kém thì chỉ là nói suông. Ông Lý Quang Diệu từng khuyên chúng ta: thắng trong giáo dục thì mới thắng trong kinh tế. Gần đây ông đại sứ Hoa Kỳ sau nhiệm kỳ công tác ở Việt Nam cũng nhận xét thách thức lớn nhất của Việt Nam hiện nay là giáo dục. Không phải họ hù doạ chúng ta, cũng chẳng phải họ cung cấp cho chúng ta thông tin gì mới mẻ tân kỳ. Họ chỉ nói cho ta biết một điều mà từ nhiều năm rồi ngay chuyên gia trong nước đã có không it lời cảnh báo tương tự. Chẳng qua Bụt nhà không thiêng thì mới cầu tới Bụt ngoài.
Cho nên dù nhiều người đã nói nhiều lần rồi tôi cũng xin nhắc lại lần nữa: chỗ nghẽn lớn nhất trong phát triển hiện nay của xã hội ta là giáo dục. Giáo dục và giáo dục, không có gì quan trọng hơn. Và vì vậy cải cách giáo dục mạnh mẽ, toàn diện và triệt để là mệnh lệnh cuộc sống. Càng chần chừ, càng trì hoãn càng trả giá đắt, và không loại trừ đến một lúc nào đó sẽ là quá trễ như đã từng xảy ra tại nhiều nơi trên thế giới.
Đó là nội dung thiết yếu hai bản kiến nghị mà một nhóm trí thức quan tâm tới vận mệnh đất nước đã gửi Trung Ương Đảng, Quốc Hội và Chính Phủ năm 2004 và năm 2009 (bản Kiến nghị 2004 đã được phổ biến rộng rãi, còn bản Kiến nghị 2009 chưa được nhiều người biết do bị hạn chế phổ biến).
Như chúng ta còn nhớ, cách đây 15 năm từng có nghị quyết lịch sử của Hội Nghị TƯ II, khoá 8, xem phát triển giáo dục, khoa học là quốc sách hàng đầu. Nhưng mười năm sau đó, Thủ Tướng Chính Phủ đã phải thẳng thắn thừa nhận chúng ta chưa thành công trong hai lĩnh vực nêu trên. Cho nên các nghị quyết Đại Hội X và ba Hội Nghị TƯ sau đó đều nhắc lại nhiệm vụ khẩn thiết cải cách giáo dục để ra khỏi cuộc khủng hoảng kéo dài mấy thập kỷ. Đặc biệt sau những lời hứa hoa mỹ của ông tân Bộ Trưởng GD và ĐT năm 2006, nhiều người trong đó có tôi đã đặt niềm tin ngây thơ vào triển vọng công cuộc chấn hưng giáo dục có thể bắt đầu chuyển động. Tiếc thay, hy vọng chưa kịp nhen nhóm thì thất vọng đã mau chóng đến, lần này lo lắng nhiều hơn vì chưa bao giờ giáo dục chạy theo thành tích dễ dãi được quảng cáo ầm ĩ thiếu trung thực lại ngốn nhiều công sức, tiền của mà hiệu quả thấp như 5 năm qua.
May thay, sự kiện Ngô Bảo Châu đã tạo một cú hích, it nhất về nhận thức. Sau một thời gian ngắn được ngộ nhận là thành tich đặc biệt của giáo dục, sự kiện này cuối cùng đã cho thấy rõ quá nhiều vấn đề cần suy nghĩ lại nghiêm túc và tỉnh táo hơn về nhà trường của chúng ta. Đáng mừng là lần đầu tiên sau nhiều năm chờ đợi, người dân đã được nghe Thủ Tướng long trọng tuyên bố cần một cuộc cải cách giáo dục mạnh mẽ, toàn diện, triệt để, để chấn hưng đất nước. Với niềm hân hoan như đã lâu chưa hề có, tôi đã lắng nghe bài diễn văn buổi tối đó của Thủ Tướng, y như người đang khát giữa trưa hè nóng bức mà được uống bát nước chè tươi.
Sau tuyên bố của Thủ Tướng, nguyên Phó Chủ Tịch Nước Nguyễn Thị Bình cũng đã lên tiếng đầy sức thuyết phục kêu gọi thực hiện cải cách giáo dục để tiến lên một nền giáo dục trung thực, lành mạnh và hiện đại, đáp ứng nguyện vọng chính đáng của người dân và yêu cầu cấp thiết chấn hưng đất nước. Nhiều bậc thức giả khác đã hưởng ứng lời kêu gọi đó. Ai nấy đều tin rằng đã đến lúc cần kết thúc giai đoạn đổi mới vụn vặt, chuyển sang cải cách mạnh mẽ thì giáo dục mới có thể ra khỏi bế tắc, trì trệ. Trong một buổi làm việc hơn hai giờ vào khoảng giữa tháng 11, tôi cũng đã cố gắng thuyết phục Bộ Trưởng GD và ĐT Phạm Vũ Luận hãy nhân cơ hội này nhận nhiệm vụ lịch sử khởi động công cuộc cải cách giáo dục đã được đề ra trong các nghị quyết lớn của TƯ. Trước hết hãy có một cách tiếp cận mới đối với một số vấn đề nhức nhối nhất hiện nay như thi cử, tổ chức trung học phổ thông và dạy nghề, tuyển chọn GS, PGS, xây dựng đại học đăng cấp quốc tế, v.v.
Tuy nhiên cho đến giờ phút này, nghĩa là gần nửa năm trời sau tuyên bố mạnh mẽ của Thủ Tướng tình hình vẫn im ắng. Một chủ trương đúng đắn có ý nghĩa then chốt chiến lược đến như vậy, lại đã long trọng hứa hẹn với dân nhiều lần, mà đấu tranh thực hiện cũng gian khổ chẳng khác gì việc đòi giảm sưu cao thuế nặng thời thực dân phong kiến hay sao ? Tôi thật sự lo lắng khi thấy bất chấp mọi lời khuyên, cỗ máy giáo dục già nua cổ lỗ vẫn tiếp tục vận hành ì ạch mà chưa thấy tín hiệu gì sẽ có thay đổi. Đến hẹn lại lên, cả nước lại chuẩn bị lao vào địa ngục thi cử với biết bao tốn kém, lo âu, để rồi như mọi năm hàng chục vạn học sinh sau 12 năm đèn sách bị ném bơ vơ ra đời, không nghề nghiệp mà cũng chẳng có nơi nào học tiếp, cùng với hàng vạn sinh viên sau 3,4 năm đại học vẫn bỡ ngỡ ngay cả với những việc làm rất thông thường mà ở các nước khác chỉ đòi hỏi một học vấn trung cấp.
Tại sao thanh thiếu niên ta phải chịu thiệt thòi lớn như vây ? Tại sao đã 36 năm ròng rã từ ngày thống nhất đất nước mà giáo dục đến nông nỗi này ?
Hiển nhiên có nhiều nguyên nhân nhưng điều dễ thấy nhất là một đất nước mà người dân tin rằng “cái gì tiền không làm được thì nhiều tiền sẽ làm được” — một đất nước như thế thì giáo dục tụt hậu là tất yếu. Suy cho cùng sự nghiệp chấn hưng giáo dục tuỳ thuộc quyết định vào cuộc đấu tranh chống tham nhũng. Chừng nào tham nhũng còn nặng thì dối trá, lừa đảo còn phổ biến khắp hang cùng ngõ hẻm, làm sao giáo dục có thể trung thực, lành mạnh được, nói chi đến hiện đại. Chống tiêu cực trong thi cử, chống bệnh thành tích ư ? thì đó, năm đầu làm nghiêm thì hàng loạt thí sinh trượt, năm sau bắt đầu dễ dãi thì tỉ lệ thi đỗ tăng, năm sau nới rộng nữa thì đạt tỉ lệ thi đỗ cao ngất ngưỡng như ban đầu, thế là chứng minh chất lượng giáo dục đã đựơc nâng cao, giáo dục đã đạt siêu thành tích. Còn mua bằng, bán điểm, chạy trường, chạy dự án, chạy chức, thứ gì cũng chạy được, chạy bằng chân, bằng đầu, bằng vốn tự có, hay gì gì đó thì đố ai biết qui mô đến đâu. Có điều chắc chắn là những chuyện tiêu cực trong giáo dục và kèm theo đó, bạo lực học đường chưa hề giảm mà có phần phát triển bạo liệt tinh vi hơn, có nguy cở trở thành một nét văn hoá tiêu biểu của xã hội ta hiện nay.
Giáo dục là một hệ thống phức tạp, theo nghĩa khoa học của từ này, cần phải được tiếp cận và vận hành như một hệ thống phức tạp mới có hy vọng tránh khỏi sai lầm, thất bại. Lãnh đạo, quản lý giáo dục mà thiếu tư duy hệ thống, thiếu môt tầm nhìn chiến lược bao quát thì chỉ có sa vào sự vụ, nay thế này mai thế khác, “đổi mới” liên miên nhưng vụn vặt, chắp vá, không nhất quán, rốt cục tiêu tốn nhiều công sức tiền của mà kết quả chỉ làm rối thêm một hệ thống vốn đã què quặt, thiếu sinh khí, thường xuyên trục trặc. Trong một thế giới biến chuyển cực kỳ mau lẹ, chỉ chậm một vài năm đã có thể gây thiệt hại đáng kể, huống chi mấy thập kỷ liền hầu như giẫm chân tại chỗ và loay hoay với những vấn nạn nhức nhối kéo dài hết năm nầy qua năm khác.
Không đâu cần bốn chữ cần kiệm liêm chính hơn lĩnh vực giáo dục. Cũng không đâu cần tư duy phê phán, cần tự do, sáng tạo hơn ở đây. Một nền học đã thiếu vắng các đạo đức và đức tính cơ bản ấy tất nhiên sớm muộn cũng biến chất và lâm vào bế tắc. Khi ấy những điều chỉnh cục bộ theo kiểu đổi mới từng việc vụn vặt như vừa qua không những không có tác dụng mà còn làm kéo dài thêm tình trạng trì trệ. Lúc này lối ra duy nhất cho giáo dục là cải tạo cấu trúc, xây dựng lại từ gốc, thay đổi cả thiết kế hệ thống. Chỉ có như thế mới mong cứu giáo dục thoát ra khỏi khủng hoảng triền miên.
Không đi sâu vào những việc quản lý cụ thể tôi chỉ xin nêu một số vấn đề ở tầm chiến lược về chất lượng giáo dục. Dù bảo thủ đến đâu, dù thoát ly thực tế cuộc sống đến đâu, ai cũng phải công nhận chất lượng giáo dục của ta quá thấp. Thấp như thế nào và làm gì để nâng cao chất lượng thì lại có nhiều cách nhìn thiển cận, phiến diện, sa vào chi tiết vụn vặt không thực chất.
Thứ nhất là chuyện học và thi. Năm nào bàn chuyện này cũng có nhiều đề xuất cải tiến nhưng càng bàn càng rối mà chưa thấy hướng ra đúng đắn. Học thì cứ miêt mài nhồi nhét nhiều thứ vô bổ, nhưng lại bỏ qua nhiều điều cần thiết trong đời sống hiện đại. Thi thì mãi vẫn một kiểu thi cổ lỗ, biến thành khổ dịch cho học sinh nhưng là cơ hội kinh doanh, làm tiền cho một số người. Không phải học mà thi mới là chính, học chỉ để đi thi, để có bằng, thậm chí không học mà có bằng thì càng tốt. Đặc biệt thi tốt nghiệp nặng nề như chưa hề thấy đâu trên thế giới văn minh. Tuy đã có không ít hội nghị bàn thảo về cải tiến phương pháp giảng dạy, cho đến nay chủ yếu vẫn chỉ là dạy trên lớp, thầy đọc, trò ghi và bám sát sách giáo khoa. Trong khi đó, với cách nhìn toàn cục có thể thấy rõ cốt lõi của chuyện học và thi ở chỗ khác. Đã sang thế kỷ 21 nhưng giáo dục của ta vẫn giữ nhiều quan niệm cổ hủ như thời phong kiến nho giáo hay thời trung cổ ở Châu Âu, nặng tính giáo điều kinh kệ, vì nhằm mục tiêu thiển cận biến con người thành một phương tiện sử dụng vào các mục đích tôn giáo hay chính trị, hơn là hoàn thiện con người như một chủ thể tự do. Phương Tây đã có thể nhanh chóng bước lên giai đoạn phát triển văn minh công nghiệp hiện đại trong khi Phương Đông còn ngủ dài trong văn minh nông nghiệp chính là nhờ họ đã sớm thế tục hoá giáo dục. Thiết nghĩ một giải pháp tương tự cũng cần nghiên cứu cho nhà trường Việt Nam để bước vào kinh tế tri thức thời nay.
Thứ hai là chuyện đào tạo theo nhu cầu xã hội. Các doanh nghiệp thường phàn nàn gặp nhiều khó khăn khi tuyển nhân lực cần thiết vì trình độ, năng lực thực tế của sinh viên do các trường đào tạo ra quá thấp so với yêu cầu của họ. Trong khi đó, hàng năm có hàng chục vạn học sinh, sinh viên ra trường không tìm được việc làm thích hợp. Mặc cho khẩu hiệu “nói không với đào tạo không đạt chuẩn, không đáp ứng nhu cầu xã hội”, và một số biện pháp đổi mới quản lý giáo dục, chất lượng đào tạo vẫn giẫm chân tại chỗ từ hàng chục năm nay. Quá nhiều trường đào tạo về kinh tế, tài chính, kế toán, ngân hàng, v.v. nhưng rất ít trường về công nghệ, kỹ thuật, khoa học. Quá nhiều đại học, cao đẳng kém chất lượng, nhưng rất it trung cấp kỹ thuật. Cơ cấu đào tạo khiến trong nước rất thiếu công nhân lành nghề, rất thiếu cán bộ kỹ thuật trung cấp giỏi, nhưng thừa kỹ sư, cán bộ quản lý tồi. Không lạ gì có nhà đầu tư nước ngoài từng nhận xét: chúng ta nói nhiều về công nghiệp hoá nhưng ngay một chiếc đinh vít cũng chưa có nơi nào trong cả nước làm được đúng chuẩn quốc tế. Công nghiệp phụ trợ không phát triển nổi, muốn làm ra sản phẩm công nghệ gì tinh vi đôi chút cũng phải nhập phần lớn linh kiện, bộ phận và các sản phẩm trung gian. Rôt cục chỉ lắp ráp là chính thì bao giờ mới xây dựng được công nghiệp hiện đại. Sự thể nghiêm trọng đến mức chuyên gia Nhật đã khuyến cáo: vận mệnh ngành công nghiệp phụ trợ Việt Nam không chỉ ảnh hưởng đến tương lai phát triển kinh tế của Việt Nam mà còn ảnh hưởng đến địa vị chính trị của Việt Nam trong khu vực Đông Nam Á. Mà với cơ cấu đào tạo nhân lực như hệ thống giáo dục hiện nay thì không cách nào phát triển công nghiệp phụ trợ. Cho nên có nhìn rộng ra cả nền kinh tế mới thấy vấn đề đào tạo theo nhu cầu xã hội không chỉ là cải tiến khâu đào tạo ở cấp đại học hay cao đẳng mà phải cải tổ cơ cấu hệ thống giáo dục, theo hướng như đã trình bày trong bản Kiến nghị 2009: sau trung học cơ sở phần lớn học sinh sẽ vào trung học nghề, trung học kỹ thuật, chỉ một tỉ lệ nhỏ vào trung học phổ thông. Bản thân trung học phổ thông cũng cần được cải tổ theo hướng không phân ban cứng nhắc mà có nhiều lựa chọn cho học sinh phát triển năng khiếu sở thích, nhờ đó nâng cao chất lương đầu vào đại học, tạo điều kiện nang cao chất lượng đại học . Như vậy, sau 12 năm học, học sinh nếu ra đời thì đã có nghề, còn số có thể tiếp tục học sẽ không bị nhiều rào cản do cánh cửa chật hẹp của đại học hiện nay.
Thứ ba là xây dựng đại học. Vị trí và tính chất của giáo dục đại học trong sự phát triển của các quốc gia ngày nay đã thay đổi rất nhiều so với chỉ cách đây vài thập kỷ. Nói giáo dục là thách thức lớn nhất cho đất nước hiện nay thì trước hết đó là giáo dục đại học. Trong một thế giới toàn cầu hóa, xây dựng đại học tất nhiên phải hướng tới và tuân thủ các chuẩn mực quốc tế trong mọi lĩnh vực. Trong khi đó, từ việc đào tạo tiến sĩ, việc tuyển chọn giáo sư, đánh giá các công trình khoa học, các nhà khoa học, các trường đại học, đến nay chúng ta vẫn giữ nhiều tiêu chuẩn riêng chẳng giống ai. Mặc dù đã trải qua mấy chục năm trời xây dựng, đại học của ta vẫn còn ngổn ngang rất nhiều vấn đề đòi hỏi không chỉ phải đổi mới mà phải thay đổi tận gốc, từ chiến lược phát triển cho đến cách thực hiện chiến lược. Trong đó việc xây dựng các đại học tiến lên đẳng cấp quốc tế đang gặp nhiều khó khăn, lúng túng, trước hết là về quan niệm. Nếu không kịp thời khắc phục thì căn bệnh thành tich phô trương cộng với tính vô trách nhiệm ở đây sẽ gây lãng phí lớn, làm chậm lại thay vì thúc đẩy quá trình tiến lên hiện đại theo tinh thần khai sáng.
Thứ tư và cuối cùng nhưng then chốt nhất là chính sách đối với đội ngũ giáo chức. Không có khâu quản lý nào thể hiện rõ hơn quyết tâm chấn hưng giáo dục bằng chính sách đối với thầy giáo. Thế nhưng hiếm có nơi nào trên thế giới và cũng hiếm có thời nào trên đất nước ta người thầy mặc dù bị đối xử bất công vẫn tận tuỵ gắn bó với nghề như trong mấy chục năm nay. Khi nói điều này không phải tôi không biết những gương xấu trong ngành, những con sâu làm rầu nồi canh. Nhưng tôi nghĩ số đó vẫn là số ít, số ít đáng ngạc nhiên nếu đặt trong hoàn cảnh xã hội và điều kiện làm việc cực kỳ khó khăn của tất cả thầy giáo của ta. Tôi tin rằng với những hoàn cảnh như thế ở các nước khác tình hình giáo dục phải bi đát hơn nhiều. Với chính sách đối với thầy giáo như của ta mà giáo dục còn được như thế này đó thật sự là kỳ công.
Song cái gì cũng có giới hạn, kể cả lòng tự trọng, thiện chí và … lương tâm. Cứ thế này e sẽ đến lúc lương tâm cũng chai lì, chẳng còn ai biết xấu hổ, để cho cái lá nho cuối cùng cũng không giữ nổi thì sẽ mất hết, chẳng còn gì để bàn về giáo dục, văn hoá, khoa học nữa. Tôi cũng hiểu và thông cảm với những khó khăn thực tế liên quan đến tham nhũng. Song có thể nói không quá đáng, kinh nghiệm hơn ba mươi năm qua đã cho thấy hầu hết mọi căn bệnh tàn phá giáo dục đều có nguồn gốc ít nhiều ở cái chính sách bỏ mặc rồi khuyến khich thầy giáo tự bươn chải để kiếm sống mà làm nghề, trong một môi trường đòi hỏi họ phải toàn tâm toàn ý mới làm tôt được nhiệm vụ. Vậy nên giải quyết cái u nầy là điều kiện tiên quyết mở đường cho giáo dục (và khoa học) thật sự trở thành quôc sách hàng đầu. Tuy nhiên cũng phải cắt u một cách an toàn vì nếu làm không minh bạch đường hoàng như hiện nay thì chỉ gây thêm hỗn loạn, cũng rất nguy hiểm.
Để kết thúc, xin bày tỏ niềm tin cải cách giáo dục mạnh mẽ, toàn diện, triệt để là giải pháp cứu nguy cho giáo dục, cũng là cứu nguy cho phẩm chất Việt Nam khi còn chưa quá trễ.
Và một lần nữa xin trân trọng cám ơn Quỹ Văn Hoá Phan Châu Trinh.

                                                                                                                                                                              Hoàng Tụy

Thứ Tư, 27 tháng 7, 2011

ĐỂ CÓ ĐƯỢC MỘT LỜI XIN LỖI

Đại diện nhà thầu Nhật Bản cúi gập mình xin lỗi vụ sập cầu Cần Thơ
          Trong cuộc sống, để có được một cảm nhận đẹp về mối quan hệ giữa người và người thì vừa rất khó, mà cũng lại rất dễ. Một ánh mắt cảm thông, một nụ cười chia sẻ, một câu cảm ơn, một lời xin lỗi chẳng hạn đâu có khó gì. Ấy vậy mà để có được điều đó, được nghe một lời như vậy, nhận được một nụ cười như thế, thấy được những ánh mắt làm ấm lòng người nhiều khi lại quá hiếm hoi! Tại sao?
          Các cụ ta thường dạy con cháu “lời chào hơn mâm cỗ cháu ạ, liệu mà thưa gửi cho lễ phép chỉn chu”, hay “lời nói không mất tiền mua, liệu lời mà nói cho vừa lòng nhau con ơi…”. Cho nên mới có câu tục ngữ “học ăn, học nói, học gói, học mở”.
          Trong “Sửa đổi lối làm việc” viết năm 1947, Bác Hồ đã mấy lần nhắc đến câu tục ngữ này để lưu ý cán bộ trong ứng xử với quần chúng, trong quan hệ với dân. Mà xem ra, những ứng xử người ta gọi là “có văn hóa” phải được đơm hoa kết trái từ một nền tảng văn hóa được thường xuyên vun trồng, chăm bón.
          Đúng như lời dạy của ông cha ta “cần phải thăm dò cái gốc của nó, lại phải tưới tắm cho cái ngọn của nó, mở rộng cái nguồn của nó, lại phải buông lơi cái dòng của nó” (Nguyễn Văn Siêu). Và Bác là tấm gương mẫu mực về tác phong ứng xử vừa thân tình cởi, mở khiến người gặp Bác luôn cảm nhận được sự thoải mái vì có sự bình đẳng, chan hòa, gần gũi.
          Người ta gọi đó là một trong những nét thể hiện “văn hóa lãnh đạo”. Mà xét đến cùng, phẩm tính của con người như thế nào sẽ thể hiện ra trong tác phong, trong lối ứng xử, lời nói và việc làm không vênh, không trái nhau, không nói một đằng làm một nẻo, “nói vậy mà không phải vậy”.
          Điều này chắng có gì mới. Cách đây hai nghìn năm, cụ Khổng đã khuyên các nhà làm chính trị “tiên hành kỳ ngôn, nhi hậu tòng chi”, tạm dịch là làm trước điều mình muốn nói, rồi hãy nói. Nếu “nói năng khéo léo, nét mặt giả bộ niềm nở, thái độ quá cung kính” [xảo ngôn, lệnh sắc túc cung], hoặc giấu lòng oán mà bề ngoài làm bộ thân thiện [Nặc oán nhi hữu kỳ nhân] thì Khổng Tử lấy làm thẹn khi gặp phải những người như vây. (Luận Ngữ, thiên Công Dã Tràng).
          Lại cũng chẳng phải đây là nét riêng biệt và độc đáo của văn hóa Phương Đông. Hãy chỉ dẫn ra vài sự kiện nóng hổi vừa được báo chí nước ngoài đưa tin cũng thấy được rằng nhiều chính khách, cả Đông và cả Tây đã có những ứng xử giàu sức thu phục nhân tâm. Xin nhắc lại đây lời xin lỗi của Gordon Brown, Thủ tướng Anh: "Tôi muốn thay mặt tất cả các chính khách, các đảng phái xin lỗi vì những gì đã xảy ra. Các nghị sĩ Quốc hội phải có trách nhiệm chứng tỏ rằng họ được bầu vào nghị viện để phục vụ các quyền lợi của công chúng, chứ không phải vì lợi ích bản thân”.
          Cũng phải nói thêm cho rõ là lời xin lỗi này đưa ra khi tờ Daily Telegraph phanh phui những khoản chi tiêu công quỹ. Trong lúc đất nước đang vật lộn đối phó với cuộc khủng hoảng kinh tế trầm trọng thì Thủ tướng Brown từng trả cho người em trai 6.500 bảng (9.934 USD) về công việc dọn dẹp căn hộ của ông ở Westminster. Còn ông Bộ trưởng Cộng đồng Hazel Blears thì có đến 3 căn hộ trong một năm và đã chi tới gần 5.000 bảng (6.644USD) trang trí nội thất trong vòng 3 tháng. Bộ trưởng Thương mại – Lord Mandelson thì kê khai gần 2.850 bảng (4.356 USD) tiền sửa chữa một ngôi nhà của ông sau khi thông báo sẽ rời Hạ viện Anh để trở thành ủy viên Ủy ban châu Âu. Sau đó, chính ông đã bán căn nhà để thu được 136.000 bảng Anh (207.864 USD).
          Những hé lộ trên do báo chí phơi ra trước dư luận đã khiến công chúng Anh phẫn nộ khi nước này đang tìm cách thoát khỏi cơn suy thoái hiện tại. Đại khái là như vậy. Và rồi người ta đặt câu hỏi: nếu không có Daily Telegraph đưa tin, [mà dù tờ báo này không đưa, tờ báo khác cũng chớp lấy thông tin để đưa], thì liệu ông Brown có đưa ra lời xin lỗi không? Nhưng xin khất câu trả lời sau khi đọc tiếp những dòng tin sau đây:
Quan chức Đài Loan gập đầu xin lỗi dân chúng
          Tổng thống Hàn Quốc Lee Myung-bak lên tiếng xin lỗi dân chúng lần thứ hai trong tháng về những rắc rối liên quan tới kế hoạch nhập khẩu thịt bò Mỹ. Ông Lee trần tình: "Tôi và chính phủ đáng lẽ phải thấy được những quan ngại của dân chúng về an toàn thực phẩm một cách kín kẽ hơn… Tuy nhiên, chúng tôi đã không làm được điều đó và tình cảnh hiện giờ phản ánh rõ thất bại của chính phủ". Ông đảm bảo rằng sẽ không nhập khẩu thịt của những con bò hơn 30 tháng tuổi. Những con bò già được cho là có nguy cơ nhiễm dịch bò điên. Lần xin lỗi trước diễn ra ngày 22/5/2009 khi mà làn sóng biểu tình phản đối chính phủ nhập khẩu thịt bò Mỹ. Tỷ lệ ủng hộ ông Lee đã giảm đáng kể sau sự kiện này. Nhiều thành viên trong nội các của ông đã đệ đơn từ chức sau làn sóng biểu tình này. Và lại xin khất thêm một lần nữa câu trả lời trước khi đọc tiếp một lời xin lỗi nữa:
          Ngày 15/8/2009, nhà lãnh đạo Đài Loan Mã Anh Cửu đã phải nói lời xin lỗi về phản ứng chậm chạp của chính quyền trước cơn bão Morakot. Cơn bão khủng khiếp này đã cướp đi sinh mạng của hàng trăm người. Ông Mã nói: "Chúng tôi đáng ra đã có thể làm tốt hơn và phản ứng nhanh hơn. Nhưng chúng tôi đã không làm tốt hơn và cũng không phản ứng nhanh hơn. Chúng tôi gửi lời xin lỗi đến người dân”. Ông Mã phát biểu như vậy với các phóng viên khi đi thị sát công việc cứu trợ, cứu hộ ở quận Nantou. Sau ông Mã với cương vị người đứng đầu Đài Loan, mới hôm rồi ông phụ trách hành pháp đã đệ đơn từ chức với lý do: “Phải có người chịu trách nhiệm về những thiệt hại nặng nề của đời sống người dân Đài Loan sau vụ thiên tai thảm khốc này”. Một số lãnh đạo ngành khác cũng đang theo gương ông này đệ đơn từ chức.
          Thì ra, cùng với chuyện xin lỗi dân, hay từ chức vì những hệ lụy do quản lý kém gây ra, do nhập nhèm công tư bị báo chí phanh phui, nói theo ngôn từ dân dã là “ăn vụng chùi mép không sạch” đều thuộc phạm trù “văn hóa lãnh đạo”. Mà để là “người có văn hóa” thì dù là nguyên thủ quốc gia, vùng lãnh thổ khi vướng vào chuyện này đều phải nhanh chóng tự xử trước khi búa rìu của dư luận quật vào.
          Do vậy, câu hỏi đặt ra cứ phải lần khần chưa trả lời chỉ là vì, cho dù phải đợi sự lên tiếng của công luận thì rồi ông nọ, ông kia mới đưa ra lời xin lỗi thì đã khí muộn. Nhưng muộn còn hơn không! Chả thế mà người tự vỗ ngực mà rằng “Nhà nước là ta” như Napoléon cũng đành ngậm ngùi tuyên bố “Nhà nước là gì? Chẳng là gì cả nếu không có dư luận”. Đúng là phải có áp lực từ dư luận. Và áp lực ấy, một nhà nước hiểu rõ sứ mệnh của mình, phải chủ động tiếp nhận để tự làm trong sạch mình, nâng cao sức mạnh và uy tín của mình trong dân chúng. Phải làm cho áp lực của dư luận lành mạnh, đích thực là tiếng nói tích cực của công chúng, trở thành một liều kháng sinh cực mạnh chống trả kịp thời những viêm nhiễm dẫn đến bội nhiễm trong cơ thể xã hội, và nguy hiểm hơn khiến cho nó di căn.
          Cho nên, dù có giương mục kỉnh đạo đức học lên để soi rọi về động cơ của những lời xin lỗi hay sự từ chức nói trên thì cũng phải sòng phẳng mà nói rằng: những lời xin lỗi, hay sự từ chức dù kịp thời hay muộn mằn, đều đem lại những nét đẹp cần thiết cho cuộc sống. Có thể đẹp nhiều, có thể đẹp ít, nhưng dù thế nào cũng là đẹp. Vì, muốn hay không, chúng vẫn giải tỏa bớt đi những bức xúc trong xã hội. Cho dù ai đó gọi đây là sự khôn ngoan chính trị đi chăng nữa, thì tại sao lại không cổ vũ và biểu dương sự khôn ngoan ấy? Không thế, thì chả nhẽ lại tán dương sự dại dột chính trị?
          Đấy là chưa nói đến chuyện: nếu từ góc độ của đạo đức học, thì dù hành vi xin lỗi hay là từ chức đều là do áp lực từ xã hội mà thuật ngữ đạo đức học gọi đó là “sự cưỡng chế bên ngoài”. Thuật ngữ này nhằm phân biệt với “sự cưỡng chế bên trong”, biểu đạt nhu cầu nội tâm được thể hiện ra trong hành vi của chủ thể. Nhưng dù từ bên ngoài hay tự bên trong, đạo đức học vẫn đánh giá tác dụng tích cực của cả hai loại hành vi đó. “Sự cưỡng chế bên ngoài” có tác dụng hỗ trợ cho “sự cưỡng chế bên trong”. Sự tự cưỡng chế xuất phát từ động cơ thôi thúc của tình cảm đạo đức muốn có sự thanh thản của lương tâm, hoặc tránh khỏi sự day dứt lương tâm.
          Do vậy, hành vi xin lỗi hay từ chức của các chính khách nước ngoài vừa dẫn ra ở trên, dù muộn dù sớm, vẫn cần được ghi nhận là một nét của “văn hóa lãnh đạo” nằm trong tổng thể những tương tác giữa lãnh đạo và công chúng, một công chúng có đầy đủ ý thức và được tạo điều kiện để thực thi quyền hạn và nghĩa vụ công dân của họ. Chính vì thế, để có được một lời xin lỗi, dễ hay khó là tùy thuộc vào chính điều này đây. Có hiểu vậy mới thấm thía ước vọng của Montesquieu, nhà khai sáng Pháp thuộc thế hệ thứ nhất, cha đẻ của triết lý về nhà nước pháp quyền, người đồng hương với Napoléon. Ước vọng rằng, ông ta sẽ là người sung sướng nhất trên đời nếu chứng kiến được việc nhà quản lý nhà nước am hiểu sâu sắc với đầy đủ trách nhiệm về công việc của mình và người bị quản lý thì vui vẻ tự nguyện tiếp nhận sự quản lý đó.
          Đã là ước vọng thì bao giờ cũng nhuốm ít nhiều chất ảo tưởng! Nhưng chính ước vọng là nguyên cớ đem lại cho con người sự kiên nhẫn để mà sống.
                                                                                                                                                             Giáo sư TƯƠNG LAI


Thứ Hai, 25 tháng 7, 2011

KHỦNG HOẢNG GIÁO DỤC: DI SẢN TRI THỨC & BẤT CẬP TÂM THỨC

           Ngạn ngữ Việt Nam có một câu mang đầy tinh thần tự phê phán: “Tiên trách kỷ, hậu trách nhân” cho thấy các cụ ta ngày trước rất coi trọng cái dũng khí dám bộc bạch, dám nói về cái sai, cái yếu kém của bản thân để tự sửa mình.
          Trước thực trạng đáng lo ngại của nền giáo dục nước nhà chúng ta hãy thử (dù chỉ là một lần ) làm cái việc mà ngày nay không có mấy người hào hứng lắm, đó là “tiên trách kỷ” một cách nghiêm túc.
          Đã có nhiều góp ý tâm huyết và những kiến nghị có nội dung sâu sắc, sáng tạo mang tính xây dựng của các nhà giáo, nhà hoạt động xã hội, nhà khoa học, nhà quản lý và nhiều người dân ở trong cũng như ngoài nước về đề tài nóng bỏng này nhằm tìm một lối ra cho cuộc khủng hoảng giáo dục hiện nay, ngõ hầu đưa đất nước bắt kịp với tốc độ chóng mặt của chuyến tàu hội nhập.
          Nhưng trên thực tế, thời gian cứ trôi đi như “bóng câu qua cửa sổ“ mà chưa thấy nhiều chuyển biến sâu rộng như mong đợi, khiến dư luận xã hội từ sốt ruột đã chuyển sang tâm lý ngày càng thêm bức xúc.
          Trên mặt báo hàng ngày có thể bắt gặp những tin đại loại như “học sinh bỏ học hàng loạt” hay “giáo dục đại học phát triển tràn lan, coi nhẹ chất lượng”, “bệnh thành tích“, “dạy thêm, học thêm”, “chương trình quá tải, nhồi nhét, lạc hậu, xa rời thực tế“, “nạn chạy điểm, chạy trường”, “gian lận trong thi cử” … Cuối cùng thì xã hội có xu hướng quy kết trách nhiệm vào các cấp lãnh đạo của ngành giáo dục và dường như mấu chốt để giải quyết vấn đề đã được tìm ra!
          Có điều là nếu nhìn sang lĩnh vực y tế ta sẽ thấy một khung cảnh cũng rất bề bộn với tình trạng các bệnh viện quá tải, người nghèo không thể tiếp cận với dịch vụ khám chữa bệnh và thuốc điều trị tốt vì thu nhập còn rất eo hẹp, y đức ở một bộ phận không nhỏ y, bác sĩ xuống cấp nghiêm trọng… Ngó vào lĩnh vực giao thông cũng thấy rất nhiều bất cập và bức xúc…
          Có lẽ chương trình truyền hình trong thời khắc tiễn biệt năm cũ là “Táo Quân chầu Trời“ đã thành công nhờ khắc họa một cách bao quát và dí dỏm thực trạng nhiều mặt của xã hội Việt Nam thời nay theo phong cách truyền thống dân tộc rất đỗi tự trào. Đó cũng là một kiểu “trách kỷ“ có văn hóa.
          Nền học vấn để làm quan
          Một khi động đến lĩnh vực nào cũng thấy nhiều bất cập, bức xúc và những biểu hiện của sự xuống cấp về đạo đức thì chắc chắn nền văn hóa của xã hội đang có vấn đề.
          Người Việt ta vốn rất tự hào vì có một truyền thống văn hiến ngàn năm khiến các nước láng giềng ASEAN phải ngưỡng mộ nhưng ngày nay phỏng có mấy trường đại học Việt Nam đạt chuẩn khu vực và số bài báo khoa học của cả nước được đăng trên các tạp chí có uy tín quốc tế liệu có nhiều hơn con số đó của riêng một đại học Thái Lan? Số bằng phát minh sáng chế đăng ký với thế giới trong cả lĩnh vực khoa học cơ bản và ứng dụng hàng năm có chăng chỉ đếm trên đầu ngón tay, trong khi một công ty LG của Hàn Quốc đã sở hữu tới con số hàng trăm!
          Đã từ lâu rồi chúng ta vẫn tự huyễn mình rằng dân ta rất cần cù, thông minh và trọng tri thức. Phải, có lẽ đúng là như vậy. Nhưng cũng xin đưa ra một so sánh thống kê: theo nhà văn hóa Phan Ngọc, khi tìm hiểu thư mục di sản văn hóa Hán Nôm Việt Nam thì trong số 6000 quyển sách tạm gọi là tiêu biểu cho tâm thức của trí thức Việt Nam trước khi tiếp xúc với văn hóa Pháp có quá nửa là sách học để đi thi, các bài mẫu, các sách giảng về các kinh truyện, các bài thơ phú viết theo lối văn chương hàn lâm. Không có cách nào chối cãi đây là một nền học vấn để làm quan!
          Phần còn lại theo những thư mục như sau: Chính trị 99 quyển nói về bang giao, quan chức; Địa lý 267 quyển nói về bản đồ, địa lý toàn quốc, địa lý địa phương; Kinh tế gồm 90 quyển nói về nông nghiệp, thủ công nghiệp; Lịch sử 964 quyển gồm các quyển sư, các sử liệu, các gia phả; Binh thư có 23 quyển; Tôn giáo, tư tưởng có 898 quyển; sách y dược có 395 quyển.
          Và như vậy không có một quyển nào nói về thương nghiệp, về kỹ thuật chế tạo công cụ sản xuất hay máy móc, tàu bè… Đây là cách nhìn quan lại, không phải cách nhìn của người sản xuất.
          Tuy nói là trọng nông, nhưng trong 70 quyển thuộc loại nông nghiệp có 9 quyển nói về địa bạ, 4 quyển về cách kê khai ruộng đất, 5 quyển về đê điều, 18 quyển về việc đóng thuế, còn lại là nói về các thổ sản. Toàn bộ kinh nghiệm nông nghiệp của một nước cực kỳ phong phú về mặt này đã không được nhắc đến.
          Trong sách về thủ công nghiệp chỉ thấy nói về tiểu sử các ông thành hoàng các nghề, có sự liên kết các nghề ở từng địa phương nhưng không có một chỉ dẫn nào về kỹ thuật trong khi người thợ thủ công Việt Nam nổi tiếng với bàn tay vàng khéo léo. Không có sách dạy nấu ăn tuy các cụ rất thích ăn ngon và cũng chỉ có vài quyển nói về tạc tượng Phật (Theo Phan Ngọc – Bản sắc văn hoá Việt Nam – NXB Văn học, Hà Nội 2006).
          Trong thời Pháp thuộc tình hình cũng không thay đổi bao nhiêu. Mấy chục năm tranh thủ được sự giúp đỡ to lớn của các nước thuộc phe XHCN đã tạo nên một nền khoa học và giáo dục có tiến bộ vượt bậc, đặc biệt là các môn khoa học cơ bản nhưng về công nghệ cao, kỹ thuật tiên tiến và thương mại, khoa học quản lý kinh tê ́- xã hội, nhân văn thì rõ ràng còn khoảng cách khá xa khi so sánh với các nước phương Tây.
          Như vậy là truyền thống trí thức Việt Nam có đặc điểm thiên lệch về các môn chiêm nghiệm, ít phát triển các môn khoa học thực chứng, do đó lối suy nghĩ giáo điều, thiếu khách quan, sáo mòn, thuộc lòng từ chương nặng về thi cử và lý thuyết suông, xa rời sản xuất vật chất và hiệu quả lao động, học để làm quan cho oai đã ăn sâu vào não trạng nhiều thế hệ người Việt.
          Với một di sản tri thức như vậy, những bất cập nội tại bấy lâu nay chưa có dịp bộc lộ lúc xã hội còn khép kín thì nay đã và đang phát tác khi chúng ta phải mở cửa và tiếp xúc để hội nhập.
          Sự bất cập từ trong tâm thức
          Còn một đặc điểm gây trở ngại ghê gớm cho sự tiến bộ đó là tư duy và hành động của anh tiểu nông. Chính lối nghĩ trọng nam khinh nữ đã là nguyên nhân của áp lực dân số đè nặng lên nền giáo dục và y tế đang thiếu phòng học và giường bệnh.
           Tư tưởng nông dân làm ăn theo mùa vụ là khởi nguồn cho lối tư duy nhiệm kỳ và nề nếp phong kiến gia trưởng thiên về áp đặt là cha đẻ của lối hành xử mất dân chủ trong sinh hoạt gia đình và xã hội. Không hiếm trường hợp tư duy “đồng hương, đồng khói và vùng, miền” đã làm nảy sinh căn bệnh bè phái hay các nhóm quyền lợi tác yêu tác quái.
          Còn nhiều lắm những hệ lụy của di sản văn hóa – lịch sử rất oai hùng mà cũng lắm đau thương, nhưng điều cần rút ra từ đây là nguyên nhân của mọi sự bất cập nó nằm ngay trong tâm thức chúng ta, tức là ngay trong tôi, trong anh dù anh có phê phán người này người nọ thì những khuyết điểm, sai lầm mà anh lên án đều có mầm mống trong anh vì cả anh và tôi đang được “nhúng” vào cùng một môi trường văn hóa.
          Đã có lần nhà sử học của kinh tế thế giới, vị giáo sư danh dự trường đại học Havard David Landes nói: “cho dù một quốc gia với bề dày văn hóa nhưng kiêu ngạo và bảo thủ thì quốc gia đó cũng không thể đứng vững mãi mãi. Thái độ cần có ở đây là tôn trọng tri thức, dù đến từ bất cứ đâu. Ánh sáng tri thức chính là yếu tố văn hóa đem lại sự thịnh vượng kinh tế.” Mà xét cho đến cùng thì tri thức chỉ sản sinh ra ở nơi nào nó được quý trọng và tự do phát triển,  hiển nhiên là nơi đó cũng sẽ song hành một nền giáo dục tiên tiến.
          Ts. Phạm Gia Minh

GIÁO SƯ NGÔ BẢO CHÂU BÌNH LUẬN VỀ VỤ XỬ CÙ HUY HẠ VŨ

             Giáo sư toán học có tiếng của Việt Nam, ông Ngô Bảo Châu, vừa lên tiếng bình luận về vụ xử Tiến sỹ luật Cù Huy Hà Vũ.
Trong bài blog với tựa đề Bấm 'Về sự sợ hãi', ông Châu viết:
"Tôi vốn không đặc biệt hâm mộ ông Cù Huy Hà Vũ. Những lý lẽ ông đưa ra tôi cũng không thấy có tính thuyết phục đặc biệt.
"Nhưng với những gì xảy ra gần đây, ông thể hiện mình như một con người không tầm thường.
"Như Hector người thành Troy, như Turnus người Rutuli hay như Kinh Kha người nước Vệ, ông Vũ không hề sợ hãi khi phải đối mặt với số phận của mình.
"Những nhân vật huyền thoại này đã làm mọi thứ để được đối mặt với số phận, để hoàn thành sứ mệnh của mình trong cuộc đời này."
'Cẩu thả và sợ hãi'
Giáo sư Châu, người cũng được đào tạo bài bản tại Pháp như ông Hà Vũ, viết tiếp:
Không thể lấy sự cẩu thả và sự sợ hãi làm phương pháp bảo vệ chế độ.
"Đối diện với ông Vũ là những người bắt ông bằng hai bao cao su đã qua sử dụng, là phiên tòa nửa công khai, nửa bí mật xảy ra ngày hôm qua và là ông quan tòa từ chối thực hiện thủ tục tố tụng để tránh tranh luận về nội dung những bài viết, chứng cớ về những việc được cho là vi phạm pháp luật của ông Vũ.
"Có cố tình làm mất thể diện quốc gia, chắc cũng khó mà làm hơn mấy ông bà này.
"Nghĩ mãi tôi cũng chỉ tìm ra hai cách lý giải.
"Khả năng thứ nhất là họ muốn làm nhanh cho xong việc. Trong trường hơp này, họ rất xứng đáng được truy cứu trách nhiệm.
"Khả năng thứ hai là ông quan tòa sợ phải đối mặt với những lý lẽ của ông Vũ. Trong trường hợp này, rất nên tạo điều kiện cho ông ta chuyển sang công tác khác, phù hợp hơn.
"Không thể lấy sự cẩu thả và sự sợ hãi làm phương pháp bảo vệ chế độ."
Giáo sư Châu cũng đã từng Bấm bày tỏ quan điểm của ông về tự do ngôn luận khi đoạt giải Fields, giải được coi là Nobel toán học, hồi tháng Tám năm ngoái.
Cũng trong một bài blog, ông viết "bám theo lề là việc của con cừu, không phải việc của con người tự do.''