Tìm kiếm

Thứ Sáu, 14 tháng 10, 2011

14 quan chức bị 'mất ghế' do để xảy ra tham nhũng


           Nguồn: vnexpress.net
           Báo cáo trước Ủy ban Thường vụ Quốc hội chiều 14/10, Tổng thanh tra Chính phủ Huỳnh Phong Tranh cho biết, đã có gần 70 người đứng đầu bị xử lý kỷ luật vì thiếu trách nhiệm, để xảy ra tham nhũng trong phạm vi quản lý. Trong số này, 14 vị bị cách chức, 16 trường hợp nhận cảnh cáo.
           Báo cáo về công tác phòng chống tham nhũng năm 2011, Tổng thanh tra Chính phủ Huỳnh Phong Tranh cho biết, thiệt hại do tham nhũng gây ra tính từ tháng 8/2010 đến hết tháng 7/2011 lên tới 11.400 tỷ đồng, trong đó tội tham ô chiếm 50% số vụ và 45% số bị can; tội lạm dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản trên 15% số vụ và 13% bị can… Thu nộp ngân sách nhà nước trên 300 tỷ đồng từ xử lý các vụ án tham nhũng.
            67 người đứng đầu đã bị xử lý kỷ luật vì thiếu trách nhiệm, để xảy ra tham nhũng trong phạm vi quản lý. Trong đó, 14 người bị cách chức, cảnh cáo 16 người. Cơ quan điều tra đã khởi tố hơn 180 vụ án với trên 300 bị can thuộc các nhóm tội tham nhũng.
Theo Tổng thanh tra, các giải pháp phòng ngừa tham nhũng đã bắt đầu phát huy tác dụng. Việc kê khai tài sản có tiến bộ, bắt đầu đi vào nề nếp; công khai minh bạch tài sản cũng dần đi vào thực chất, khắc phục bệnh hình thức trước đây.
13 bộ ngành trung ương và 11 địa phương đã hoàn thành toàn bộ việc kê khai tài sản năm 2010. Số còn lại kê khai lần đầu đạt trên 96%. Một số người đứng đầu các cơ quan nhà nước bị phê bình, xử lý do vi phạm quy định hoặc chậm tổ chức kê khai. Theo ông Tranh, quá nửa số cơ quan hưởng lương từ ngân sách đã thực hiện trả lương qua tài khoản. Tuy nhiên, kê khai tài sản thu nhập vẫn chưa đạt hiệu quả do chưa có cơ chế kiểm soát thu nhập trong toàn xã hội.
              Theo ông Tranh, dù Ban chỉ đạo Trung ương Phòng chống tham nhũng đã tích cực chỉ đạo các cơ quan điều tra truy tố xét xử, đẩy nhanh tiến độ các vụ án tham nhũng nghiêm trọng song công tác này vẫn còn nhiều hạn chế. Trong đó, nhiều hạn chế đã từng được nêu ở các báo cáo trước đây như thể chế phòng chống tham nhũng, cơ chế bảo vệ người tham nhũng chưa hoàn thiện… Một số vụ việc, vụ án xử lý chưa tương xứng, xử lý kéo dài gây tâm lý hoài nghi, giảm sút lòng tin trong xã hội.
              Tổng thanh tra Chính phủ cho rằng, cơ chế chính sách đối với lĩnh vực nhạy cảm này ở VN còn sơ hở, bất cập so với thực tế; chưa có quy định về một số biện pháp kỹ thuật điều tra, đặc biệt với hành vi tham nhũng cũng chưa có quy định về nghĩa vụ chứng minh đối với người có chức có quyền trong trường hợp tài sản của họ tăng lên một cách bất thường. Trong năm tới, Thanh tra Chính phủ cho rằng cần ban hành nghị định về trách nhiệm giải trình của người đứng đầu cơ quan trong việc thực hiện nghĩa vụ công khai, minh bạch của đơn vị; thông tư về quy định bảo vệ người tố cáo tham nhũng; nghiên cứu biện pháp kiểm soát thu nhập đối với quan chức.
            “Cần hoàn thiện mô hình cơ quan phòng chống tham nhũng, cho thí điểm mô hình chỉ đạo phòng chống tham nhũng cấp tỉnh là bí thư tỉnh ủy hoặc chủ tịch hội đồng nhân dân. Từ đó rút kinh nghiệm để lựa chọn mô hình phù hợp”, ông Tranh kiến nghị trước Thường vụ Quốc hội.
            Thẩm tra báo cáo của Thanh tra Chính phủ, Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp Nguyễn Văn Hiện cho rằng, báo cáo còn nhiều thiếu sót như các hạn chế đều là những thông tin cũ; không nêu rõ nơi nào xử lý tốt, nơi nào xử lý yếu nạn tham nhũng. “Nhiều vụ án tham nhũng giải quyết kéo dài, khởi tố nhiều năm vẫn chưa xong, có vụ khởi tố xong thì đình chỉ do bị can đã khắc phục hậu quả…”, ông Hiện nói.
          Về kết quả thu hồi cho ngân sách từ các vụ tham nhũng, theo Ủy ban Tư pháp, số tiền thu hồi 300 tỷ đồng chỉ chiếm 2,6% thiệt hại là con số quá nhỏ. Đặc biệt, chỉ số tham nhũng của VN không hề cải thiện…
          Theo Chủ nhiệm ủy ban Pháp luật Phan Trung Lý, báo cáo của Thanh tra tuy nêu được nhiều vấn đề song vẫn chung chung. “Báo cáo chưa có đánh giá thật đúng, chưa vẽ lên bức tranh của phòng chống tham nhũng, kết quả từng mặt, phân tích nguyên nhân chưa rõ”, ông Lý nói.
          Ông Lý cảnh báo tình trạng “nhờn thuốc”, phản tác dụng khi áp dụng các biện pháp tuyên tuyền, giáo dục phòng chống tham nhũng do chất lượng không cao. Ngoài ra, kiến nghị thay đổi trưởng ban chỉ đạo phòng chống tham nhũng cấp tỉnh là bí thư tỉnh ủy hoặc chủ tịch HĐND thay cho chủ tịch UBND chưa thể hiện rõ lập luận.
Đồng quan điểm, Phó chủ tịch Quốc hội Tòng Thị Phóng cho rằng, nếu thí điểm mô hình thay đổi người đứng đầu ban chỉ đạo phòng chống tham nhũng cấp tỉnh sẽ làm trái quy định của luật. Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng cũng hoài nghi về căn cứ đề xuất này. “Bí thư làm chắc gì đã tốt? Nếu Thanh tra kiến nghị Quốc hội thì phải có tổng kết, đánh giá riêng”, Chủ tịch Quốc hội yêu cầu.
Theo Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng, đấu tranh phòng chống tham nhũng chưa bao giờ là vấn đề đơn giản. Để làm tốt công tác này trong năm tới và những năm tiếp theo, Chủ tịch yêu cầu Thanh tra Chính phủ cần hoàn thiện, bổ sung báo cáo với nhiều số liệu, biện pháp… cụ thể khi trình. Cơ quan thẩm tra là Ủy ban Tư pháp cũng cần phối hợp để khi trình trước Quốc hội, báo cáo phải có chất lượng, để đại biểu tập trung thảo luận.
          “Cần nói rõ mục tiêu bao giờ đẩy lùi được tham nhũng. Năm sau có đỡ nghiêm trọng không? Nếu sang năm chưa đẩy lùi thì mấy năm nữa?”, Chủ tịch Quốc hội đặt câu hỏi.
          Tiếp thu các ý kiến, Phó tổng Thanh tra Chính phủ Trần Đức Lượng cho biết sẽ hoàn thiện thêm báo cáo đồng thời rút kiến nghị về thay đổi người đứng đầu cơ quan phòng chống tham nhũng cấp tỉnh.
           Nguyễn Hưng

Thứ Hai, 10 tháng 10, 2011

Tái cơ cấu nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng


          Nguồn: Báo Tuổi trẻ ngày 10/10/2011
           TTO - Sau hơn 4 ngày làm việc khẩn trương, nghiêm túc, Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã hoàn thành toàn bộ nội dung chương trình đề ra.
           Cán bộ gương mẫu thì lòng dân sẽ yên Giữ vững độc lập chủ quyền và hòa bình, ổn định
           Các ủy viên trung ương và các đồng chí tham dự hội nghị đã thể hiện tinh thần trách nhiệm cao, phát huy dân chủ, trí tuệ, thẳng thắn thảo luận, đóng góp nhiều ý kiến quan trọng vào các báo cáo, dự thảo kế hoạch và đề án. Bộ Chính trị đã tiếp thu tối đa và giải trình những vấn đề còn có ý kiến khác nhau; Ban Chấp hành Trung ương đã thống nhất cao thông qua nghị quyết của hội nghị.
          Để kết thúc hội nghị, tôi xin thay mặt Bộ Chính trị phát biểu mấy ý kiến, làm rõ thêm một số vấn đề và khái quát lại những kết quả chủ yếu của hội nghị.
           1- Với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, xem xét các vấn đề một cách khách quan, khoa học, hội nghị đã thống nhất đánh giá tình hình kinh tế - xã hội đất nước, nguyên nhân của những khó khăn, thách thức hiện nay và xu hướng phát triển trong thời gian tới. Ban Chấp hành Trung ương ghi nhận, đánh giá cao và biểu dương những nỗ lực to lớn của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đã phấn đấu khắc phục nhiều khó khăn, thách thức, đạt được một số kết quả bước đầu quan trọng.
               Tốc độ tăng GDP 9 tháng đầu năm 2011 đạt 5,76%, cả năm ước đạt 5,8-6%. Sản xuất nông nghiệp phát triển khá toàn diện, đạt mức kỷ lục về sản lượng lương thực và xuất khẩu gạo. Sản xuất công nghiệp tăng trưởng khá. Khu vực dịch vụ tiếp tục có bước phát triển. Chỉ số giá tiêu dùng có xu hướng giảm, thu ngân sách và xuất khẩu tăng cao, bội chi ngân sách và nhập siêu giảm dần, thị trường ngoại hối và tỉ giá ngoại tệ từng bước ổn định, dự trữ ngoại hối tăng khá, cán cân thanh toán quốc tế được cải thiện.
Lĩnh vực lao động, việc làm, thực hiện chính sách xã hội, bảo đảm an sinh xã hội, xóa đói giảm nghèo có nhiều cố gắng và đạt kết quả tích cực. Các lĩnh vực giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ, y tế, văn hóa thông tin có tiến bộ. An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững; quốc phòng được tăng cường, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia được bảo vệ.
              Tuy nhiên, một số chỉ tiêu quan trọng của kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2011 chưa hoàn thành, nhất là mục tiêu kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội. Cho đến nay, kinh tế - xã hội nước ta vẫn đứng trước nhiều khó khăn, thách thức.
            Kinh tế vĩ mô chưa thật ổn định; lạm phát vẫn ở mức cao, tiềm ẩn nguy cơ bùng phát; nợ công, đặc biệt là nợ nước ngoài tăng nhanh; dự trữ ngoại hối mỏng, áp lực đối với tỉ giá còn lớn; thị trường tài chính, thị trường bất động sản giảm sút, tiềm ẩn nhiều rủi ro. Sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp đang phải đối mặt với tình trạng giá cả đầu vào, lãi suất cao, hàng tồn kho lớn.
           Việc thực hiện các chủ trương của Đại hội XI về đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế còn chậm. Đời sống của nhân dân, nhất là người nghèo, các đối tượng chính sách xã hội, người lao động ở các đô thị, khu công nghiệp, vùng miền núi, đồng bào dân tộc thiểu số gặp nhiều khó khăn. Lĩnh vực giáo dục - đào tạo, y tế, văn hóa còn nhiều bất cập.
           Tai nạn và ùn tắc giao thông chưa giảm, còn xảy ra nhiều vụ tai nạn nghiêm trọng; khiếu kiện đông người, đình công xảy ra ở nhiều nơi; số vụ tội phạm, tệ nạn xã hội gia tăng, gây lo lắng, bức xúc trong nhân dân.
             Tình hình nêu trên có nguyên nhân khách quan là do tác động của khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế toàn cầu; nguyên nhân chủ quan là do những yếu kém của nội tại nền kinh tế với mô hình tăng trưởng và cơ cấu kinh tế lạc hậu, kém hiệu quả, tích tụ kéo dài từ lâu, chậm được khắc phục và do những hạn chế, khuyết điểm trong lãnh đạo, quản lý, điều hành của các cấp các ngành, đặc biệt là trong điều hành chính sách tiền tệ, tài khóa; quản lý quy hoạch, đầu tư, đất đai, tài nguyên, thị trường bất động sản...
           Bước vào năm 2012 và kế hoạch 5 năm, nước ta có những thuận lợi cơ bản là những thành tựu to lớn của 25 năm đổi mới, của 10 năm thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và kế hoạch 5 năm 2006 - 2010. Trong bối cảnh khó khăn chung của thế giới hiện nay, nước ta vẫn có thể nắm bắt, phát huy những tiềm năng, lợi thế của một nước đi sau, đang trong quá trình công nghiệp hóa với nền nông nghiệp giàu tiềm năng sản xuất và xuất khẩu hàng nông sản.
             Tuy nhiên, dự báo về tình hình năm 2012 và một số năm tiếp theo, trung ương cho rằng tình hình khủng hoảng nợ công và lạm phát tăng cao ở nhiều nước không chỉ làm chậm quá trình phục hồi kinh tế thế giới trong năm 2011 mà còn tiếp tục gây khó khăn, thậm chí có nguy cơ đẩy kinh tế thế giới rơi vào tình trạng suy thoái mới. Do vậy, dự báo năm 2012 vẫn là năm có nhiều khó khăn, thách thức đối với nền kinh tế nước ta.
          2- Về quan điểm phát triển, tư tưởng chỉ đạo và định hướng mục tiêu, nhiệm vụ, một số chỉ tiêu chủ yếu của kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2011 - 2015 và năm 2012, Ban Chấp hành Trung ương yêu cầu phải nắm vững và giải quyết tốt mối quan hệ biện chứng giữa tốc độ tăng trưởng và chất lượng phát triển; giữa tăng trưởng cao và ổn định kinh tế vĩ mô; giữa kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô với đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế; giữa phát triển kinh tế với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo đảm an sinh xã hội.
           Trong quản lý, điều hành cần phấn đấu để đạt kết quả toàn diện, song tùy tình hình mà xếp thứ tự ưu tiên sao cho hợp lý nhất. Trong năm 2012 và những năm tiếp theo, tiếp tục thực hiện kết luận 02-KL/TW của Bộ Chính trị, ưu tiên hàng đầu cho việc kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và bảo đảm an sinh xã hội gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế; tạo tiền đề vững chắc cho tăng trưởng cao hơn ở những năm cuối của kế hoạch 5 năm.
          Để ứng phó với tình hình trong nước, thế giới có nhiều diễn biến phức tạp, khó lường, đi đôi với việc nâng cao năng lực phân tích, dự báo, cần phát huy tốt hơn nữa vai trò có ý nghĩa quyết định của Nhà nước trong kiến tạo, điều tiết sự phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta.
         Tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trên cơ sở tôn trọng, vận dụng đầy đủ, đúng đắn các quy luật, nguyên tắc của kinh tế thị trường, xem nhu cầu thị trường, cơ chế thị trường và hiệu quả, lợi ích là căn cứ chính để quyết định việc phân bổ các nguồn lực cho phát triển; đồng thời có biện pháp tích cực ngăn ngừa và khắc phục những hạn chế, mặt trái của cơ chế thị trường.
         Ưu tiên huy động và phân bổ nguồn lực bảo đảm thực hiện thành công ba khâu đột phá chiến lược mà Đại hội XI đã xác định; chú trọng phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn; phát triển văn hóa - xã hội, y tế, giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ và chủ động ứng phó với thiên tai, dịch bệnh, nước biển dâng do biến đổi khí hậu toàn cầu.
            Mục tiêu tổng quát của 5 năm 2011 - 2015, như Đại hội XI đã xác định là: Phát triển kinh tế nhanh, bền vững gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh. Bảo đảm phúc lợi xã hội và an sinh xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Bảo vệ tài nguyên, môi trường và chủ động ứng phó với tác động của biến đổi khí hậu.
             Tăng cường hoạt động đối ngoại và nâng cao hiệu quả hội nhập quốc tế. Bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội. Tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại.
           Mục tiêu tổng quát của năm 2012 là ưu tiên kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, duy trì tăng trưởng ở mức hợp lý gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế, nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế; bảo đảm phúc lợi xã hội và an sinh xã hội, cải thiện đời sống nhân dân; giữ vững ổn định chính trị, củng cố quốc phòng, bảo đảm an ninh, trật tự an toàn xã hội; nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế.
             Trên cơ sở mục tiêu tổng quát đó, hội nghị nhất trí để Chính phủ chuẩn bị trình Quốc hội xem xét, quyết định phương án tăng trưởng cụ thể với một số chỉ tiêu chủ yếu tương ứng về các mặt tốc độ tăng trưởng, mức lạm phát, bội chi ngân sách, nợ công, nhập siêu... Song, lưu ý thêm là trong mọi trường hợp, phải cố gắng bảo đảm thực hiện các mục tiêu xã hội như tạo việc làm, nâng cao đời sống nhân dân, giảm tỉ lệ hộ nghèo, bảo đảm an sinh xã hội…
            3- Hội nghị đã nhất trí cao về định hướng các giải pháp chủ yếu mà cả hệ thống chính trị phải đồng tâm hiệp lực lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện, tạo sự chuyển biến thực sự trong việc đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, nâng cao chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh.
             Ban Chấp hành Trung ương khẳng định sự đúng đắn của kết luận 02-KL/TW của Bộ Chính trị và nghị quyết 11/NQ-CP của Chính phủ; và chỉ rõ trong năm 2012 cần tiếp tục thực hiện tốt hơn các mục tiêu, chính sách và biện pháp nêu trong kết luận và nghị quyết, trước hết là thực hiện chính sách tiền tệ chặt chẽ, chính sách tài khóa thắt chặt, thực hiện nghiêm việc cắt giảm và chấn chỉnh đầu tư công, tạo thuận lợi cho sản xuất, kinh doanh, hỗ trợ có chọn lọc cho những ngành, lĩnh vực quan trọng và các doanh nghiệp có tiềm năng phát triển.
           Trong thời kỳ kế hoạch 5 năm tới, cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức triển khai thực hiện tốt 11 nhóm nhiệm vụ và giải pháp do Ban cán sự Đảng Chính phủ trình. Tất cả các chính sách, biện pháp đều phải tập trung phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, sớm khắc phục những nguyên nhân gây trở ngại cho sự phát triển bền vững về kinh tế, xã hội và môi trường, đặc biệt là nguyên nhân chủ quan, do lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, điều hành.
           Có thể nói một nội dung mới rất quan trọng được hội nghị yrung ương lần này xem xét và quyết định là phải tái cơ cấu nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng. Đây là nhiệm vụ rất lớn và phức tạp, đòi hỏi phải được triển khai thực hiện đồng bộ trong tất cả các ngành, các lĩnh vực trên phạm vi cả nước và ở từng địa phương, đơn vị cơ sở trong nhiều năm.
            Trong 5 năm tới cần tập trung vào 3 lĩnh vực quan trọng nhất: tái cấu trúc đầu tư với trọng tâm là đầu tư công, cơ cấu lại thị trường tài chính với trọng tâm là tái cấu trúc hệ thống ngân hàng thương mại và các tổ chức tài chính, tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước mà trọng tâm là các tập đoàn kinh tế và tổng công ty nhà nước.
           Tái cấu trúc đầu tư với trọng tâm là đầu tư công chỉ có thể thành công trên cơ sở tiếp tục đổi mới tư duy và phương pháp xây dựng, tổ chức thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hằng năm và 5 năm để huy động, phân bổ và sử dụng có hiệu quả nhất, theo thứ tự ưu tiên hợp lý nhất các nguồn lực của Nhà nước và xã hội, nội lực và ngoại lực cho đầu tư phát triển theo quy hoạch.
           Chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và chính sách đầu tư phải có tầm nhìn xa, không bị "tư duy nhiệm kỳ", tư tưởng cục bộ, bệnh thành tích, chủ quan duy ý chí hay "lợi ích nhóm" chi phối. Quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hằng năm và 5 năm 2011 - 2015 phải cụ thể hóa được những mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ do Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đề ra và gắn kết chặt chẽ với chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành, lĩnh vực và vùng lãnh thổ sao cho phù hợp nhất với tình hình đất nước và thế giới trong từng thời kỳ.
           Quy trình và phương pháp xây dựng, tổ chức điều hành thực hiện quy hoạch, kế hoạch phải thực sự khoa học, đi từ tổng thể chung của cả nước đến các vùng lãnh thổ, rồi mới đến từng địa phương, cơ sở. Theo đó, cần khẩn trương soát xét, điều chỉnh luật pháp, chính sách và cơ chế quản lý đầu tư nói chung và đầu tư công nói riêng; đặc biệt là vấn đề phân cấp quản lý nhà nước về thu chi ngân sách và đầu tư.
           Khẩn trương xác định các tiêu chí và thứ tự ưu tiên làm căn cứ để phê duyệt hay từ chối hoặc cắt giảm các dự án đầu tư, nhất là dự án đầu tư công.
           Khắc phục tình trạng phát triển quá nhiều các khu kinh tế, khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khai thác quá mức tài nguyên, khoáng sản mà chưa tính toán đầy đủ khả năng thu hút các doanh nghiệp vào đầu tư, hiệu quả kinh tế - xã hội và tác động đến môi trường; cũng như tình trạng phê duyệt quá nhiều dự án vượt khả năng nguồn lực hiện có, kế hoạch đầu tư bị cắt khúc ra nhiều năm, dẫn đến đầu tư dàn trải, kéo dài thời gian thi công, nợ xây dựng cơ bản lớn, gây lãng phí, thất thoát, hiệu quả thấp.
            Nội dung của kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội phải tính toán đầy đủ đến kế hoạch huy động vốn, phát triển nguồn nhân lực và khoa học - công nghệ; đồng thời phải bao gồm đồng bộ các chính sách, biện pháp cụ thể, có tính khả thi, bảo đảm thực hiện thành công các mục tiêu, nhiệm vụ đã đề ra.
          Để cơ cấu lại thị trường tài chính với trọng tâm là tái cấu trúc hệ thống ngân hàng thương mại, các tổ chức tài chính, cần đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với thị trường chứng khoán, thị trường bất động sản, thị trường tiền tệ, đặc biệt là thị trường vàng và ngoại tệ, khắc phục tình trạng đôla hóa; kiểm soát chặt chẽ nợ công, nợ xấu của doanh nghiệp nhà nước, vay trả nợ nước ngoài, các nguồn vốn đầu tư nước ngoài, nhất là đầu tư vào lĩnh vực bất động sản, thị trường chứng khoán và các nguồn vốn nóng khác; từng bước giảm tỉ lệ cung cấp vốn cho đầu tư phát triển từ hệ thống ngân hàng thương mại; nâng cao chất lượng các hoạt động dịch vụ ngân hàng.
          Cấu trúc lại hệ thống ngân hàng thương mại và các tổ chức tài chính theo hướng sáp nhập, hợp nhất các ngân hàng thương mại, các tổ chức tài chính nhỏ để có số lượng phù hợp các ngân hàng thương mại và tổ chức tài chính có quy mô và uy tín, hoạt động lành mạnh, bảo đảm tính thanh khoản và an toàn hệ thống.
          Trong quá trình tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước mà trọng tâm là các tập đoàn kinh tế và tổng công ty nhà nước, phải quán triệt thực hiện các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp đổi mới, nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước đã được xác định trong các nghị quyết của Đảng. Kiên quyết chấm dứt tình trạng các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước đầu tư dàn trải ra ngoài ngành, lĩnh vực sản xuất, kinh doanh chính trước năm 2015.
            Tập trung phát triển doanh nghiệp nhà nước trong những ngành, lĩnh vực quan trọng có ý nghĩa then chốt của nền kinh tế quốc dân, chủ yếu thuộc các chuyên ngành kinh tế, kỹ thuật liên quan đến kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, dịch vụ công, ổn định kinh tế vĩ mô. Hoàn thiện thể chế quản lý doanh nghiệp nhà nước, thực hiện quyền và trách nhiệm của chủ sở hữu nhà nước đối với vốn và tài sản nhà nước tại các doanh nghiệp, bảo đảm công khai, minh bạch về tài chính.
             Đổi mới quản trị và cơ chế hoạt động của doanh nghiệp nhà nước theo hướng chuyển sang tổ chức và hoạt động theo mô hình công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn phù hợp với quy định của Luật doanh nghiệp, cạnh tranh bình đẳng trên thị trường.
            4- Cùng với việc định hướng các giải pháp nhằm tạo sự chuyển biến thực sự trong 3 lĩnh vực then chốt nêu trên, trung ương còn lưu ý, nhấn mạnh định hướng chính sách, biện pháp bảo đảm an ninh lương thực gắn với bảo vệ môi trường sinh thái, bảo đảm an ninh năng lượng và giữ vững ổn định chính trị, an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
           Để bảo đảm an ninh lương thực gắn với bảo vệ môi trường sinh thái, cần tiếp tục đẩy mạnh việc thực hiện nghị quyết hội nghị trung ương 7 (khoá X) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; kiên quyết giữ 3,8 triệu ha đất trồng lúa, có chính sách điều tiết ngân sách hợp lý đối với vùng đồng bằng, nhất là vùng đồng bằng sông Cửu Long, để các vùng này chuyên tâm sản xuất, chế biến lúa gạo và các hàng nông sản, thực phẩm khác, đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu.
            Tập trung ưu tiên phát triển nông nghiệp công nghệ cao, quy mô lớn, chất lượng cao đối với một số sản phẩm có lợi thế nhằm hình thành các vùng chuyên canh. Đồng thời chủ động, tích cực chuẩn bị đối phó có hiệu quả với nguy cơ nước biển dâng và thiên tai, dịch bệnh do tác động của biến đổi khí hậu toàn cầu; tăng cường các chính sách, biện pháp bảo vệ tài nguyên, môi trường, nhất là chính sách trồng và bảo vệ rừng, khai thác sử dụng tài nguyên nước.
          Chấm dứt tình trạng khai thác quá đáng, làm cạn kiệt tài nguyên, gây hại cho môi trường. Kiểm soát chặt chẽ việc xử lý chất thải công nghiệp, đáp ứng tiêu chuẩn bảo vệ môi trường.
           An ninh năng lượng chỉ có thể được giữ vững trên cơ sở đẩy mạnh huy động mọi nguồn lực phát triển nguồn cung theo đúng sơ đồ tổng thể quy hoạch phát triển hệ thống điện lực Việt Nam và chiến lược phát triển ngành dầu khí, ngành than đến năm 2020; đồng thời kiểm soát có hiệu quả các nhu cầu sử dụng năng lượng, tăng cường các biện pháp tiết kiệm điện gắn với lộ trình chuyển sang áp dụng giá thị trường đối với điện, than và xăng dầu.
             Trong quá trình thực hiện mục tiêu giữ vững ổn định chính trị, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, cần áp dụng đồng bộ các chính sách, biện pháp phát triển kinh tế gắn với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; chú trọng bảo đảm an sinh xã hội, tạo việc làm, nâng cao thu nhập, xóa đói giảm nghèo bền vững, giảm chênh lệch giàu nghèo; giải quyết những vấn đề gây bức xúc của nhân dân, nhất là trong việc giải tỏa đền bù, thu hồi đất và những tiêu cực trong giáo dục - đào tạo, chăm sóc sức khỏe nhân dân…; siết lại trật tự kỷ cương, đẩy mạnh đấu tranh phòng chống tham nhũng, lãng phí, đẩy lùi các tệ nạn, tiêu cực xã hội, tai nạn giao thông; phòng chống các loại tội phạm; bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia.
           5- Hội nghị đã cho ý kiến hoàn chỉnh và quyết định ban hành 3 văn bản quan trọng về thi hành điều lệ Đảng nhằm tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong Đảng, nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên. Ban Chấp hành Trung ương đánh giá cao việc chuẩn bị nghiêm túc, công phu, có chất lượng các dự thảo và cơ bản nhất trí với nội dung do Bộ Chính trị trình.
            Đồng thời cho ý kiến sửa trực tiếp vào các điều khoản cụ thể về một số vấn đề quan trọng như Ban cán sự Đảng, Đảng Đoàn lãnh đạo công tác kiểm tra, giám sát; tổ chức bộ máy giúp việc của Ban cán sự Đảng, Đảng Đoàn; về một số vấn đề đảng viên không được làm; các cơ quan tham mưu giúp việc chuyên trách của đảng ủy khối...
            Nhờ vậy, đến nay chất lượng của cả 3 văn bản đã được nâng lên đáng kể, trung ương đã quyết định ban hành "Quy định thi hành điều lệ Đảng khoá XI", "Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng" và "Quy định những điều đảng viên không được làm".
         Các quy định này đã cụ thể hóa nhiều nội dung quan trọng của điều lệ Đảng khóa XI, có sự kế thừa quy định của các khóa trước, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thi hành điều lệ Đảng; nâng cao hiệu quả, hiệu lực công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng; giữ gìn phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên.
             Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đã thành công tốt đẹp; song tình hình đất nước hiện nay và dự báo sắp tới còn nhiều khó khăn, thách thức, diễn biến phức tạp, khó lường. Vì vậy hơn bao giờ hết, cần phải nghiêm túc quán triệt, triển khai tổ chức thực hiện thật tốt nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ XI của Đảng và nghị quyết, kết luận của hội nghị trung ương lần này.
              Ngay sau hội nghị, Ban cán sự Đảng Chính phủ, Đảng Đoàn Quốc hội cần khẩn trương tiếp thu ý kiến chỉ đạo của trung ương, hoàn chỉnh các báo cáo, dự thảo kế hoạch để trình Quốc hội xem xét, quyết định.
           Trên cơ sở quán triệt sâu sắc quan điểm phát triển, tư tưởng chỉ đạo và định hướng các giải pháp chủ yếu đã được Ban Chấp hành Trung ương xác định, các cấp ủy, chính quyền, từ trung ương đến địa phương, cơ sở phải chủ động, tích cực phối hợp với Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội xây dựng, triển khai các chương trình, kế hoạch hành động cụ thể nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị thực hiện nhiệm vụ trung tâm là phát triển kinh tế - xã hội, nhiệm vụ then chốt là xây dựng, chỉnh đốn Đảng.
            Mỗi cán bộ, đảng viên và tổ chức Đảng cần nghiêm túc học tập và thực hiện đúng các quy định của 3 văn bản thi hành điều lệ Đảng khóa XI mới được ban hành. Từng đồng chí ủy viên trung ương, theo vị trí công tác của mình, phát huy hơn nữa vai trò, trách nhiệm cá nhân, cùng với cấp ủy lãnh đạo và tổ chức thật tốt việc thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội; gương mẫu thực hiện và tổ chức thực hiện nghiêm túc điều lệ Đảng, các quy định thi hành điều lệ Đảng và quy định những điều đảng viên không được làm.
            Nhận định đúng tình hình; đề ra đúng phương hướng, giải pháp; có bộ máy tổ chức, cán bộ mới được kiện toàn và sự đồng tâm hiệp lực của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, chúng ta hoàn toàn có cơ sở để tin tưởng rằng đất nước ta sẽ từng bước vượt qua mọi khó khăn, thách thức, phấn đấu hoàn thành thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ của kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2012 và 5 năm 2011 - 2015.
           Với tinh thần đó, tôi xin tuyên bố bế mạc hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XI. Chúc các đồng chí mạnh khỏe, hoàn thành tốt trọng trách trước Đảng, nhân dân, đất nước.
            TTO

Thứ Năm, 6 tháng 10, 2011

Áp lực xã hội - gốc rễ chuyện “giảm tải”


Nguồn: Báo Nhân dân điện tử, Thứ năm, 06/10/2011  
NDĐT- Năm học 201-2012, Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD& ĐT) triển khai việc giảm tải toàn bộ chương trình từ tiểu học đến THPT. GS.TS Nguyễn Minh Thuyết, người đã trực tiếp tham gia vào việc giảm tải ở cấp tiểu học cho rằng, một trong những giải pháp để thực hiện tốt giảm tải chính là hóa giải các áp lực xã hội đối với chuyện học hành.
 Hỏi: Gắn bó với giáo dục trong một thời gian dài..., Giáo sư nghĩ gì về câu chuyện “giảm tải” mà ngành giáo dục đề ra trong năm học 2011-2012 này?
Trả lời: Nếu tôi nhớ không nhầm thì đây là lần thứ hai ngành giáo dục đặt vấn đề giảm tải toàn bộ chương trình từ tiểu học đến THPT. Chưa biết kết quả thế nào, nhưng trước hết cần phải hoan nghênh động thái này của ngành giáo dục vì nó thể hiện tinh thần cầu thị của ngành trước các ý kiến của xã hội về “việc học tập quá tải”. Song, tôi không thật tin là sau đợt giảm tải này hoặc sau một, hai đợt giảm tải nữa tình hình sẽ được cải thiện vì vấn đề quá tải không hoàn toàn nằm ở chương trình, SGK, mà nó ở chỗ khác.
Không những thế, việc triển khai giảm tải trong năm học 2011-2012 này có vẻ gấp quá. Đáng ra, việc giảm tải phải được bàn bạc sớm hơn, có văn bản hướng dẫn chu đáo hơn, thậm chí còn phải tập huấn cho những thành phần cốt cán… nhưng mãi đầu năm học Bộ GD&ĐT mới gửi văn bản về các địa phương. Tôi có cảm tưởng Bộ cũng bị động trong chuyện này, chứ chưa có kế hoạch chu đáo từ trước. Bởi vì việc giảm tải ở THCS, THPT được đưa ra bàn vào khoảng tháng 6, tháng 7- 2011, còn ở bậc tiểu học thì mãi đến cuối tháng 8 mới tiến hành các cuộc họp bàn. Lý do rất đơn giản là “không có kinh phí”. Thậm chí, là người trong cuộc, tôi biết đến bây giờ kinh phí họp vẫn chưa được duyệt.
Hỏi: Thực tế, cũng có những trường hợp việc “giảm tải”làm cho bài học thiếu tính logic, thí dụ: bài về Hội nghị Genève bị cắt mất phần hoàn cảnh, diễn biến của hội nghị, chỉ tập trung vào nội dung, ý nghĩa... Giáo sư nhìn nhận như thế nào về câu chuyện đó?
Trả lời: Học về một sự kiện lịch sử mà không biết hoàn cảnh lịch sử và diễn biến thì chẳng khác gì vẽ rồng có đuôi mà không có đầu. Tuy vậy, theo tôi, dù giảm tải hay không, vai trò của người đứng lớp rất quan trọng. Cùng một vấn đề nhưng có giáo viên dạy rất dễ hiểu, học sinh dễ tiếp thu, có giáo viên lại làm cho vấn đề trở nên phức tạp và học sinh không thể tiếp thu được.
Hỏi: Liệu việc giảm tải có mở ra cơ hội để các trường đua nhau dạy thêm, học thêm làm tăng gánh nặng học hành cho học sinh và các gia đình không? Theo Giáo sư, có giải pháp gì để khắc phục nạn dạy thêm học thêm tràn lan hiện nay?
Trả lời: Tôi cho rằng việc dạy thêm, học thêm sẽ không giảm được từ chương trình giảm tải này, vì những lý do từ cả hai phía cha mẹ học sinh và thầy cô. Trong hoàn cảnh “người khôn, việc khó” như hiện nay, mỗi nhà lại chỉ có 2 con, bố mẹ nào cũng muốn con giỏi từ bé để vào được những trường tốp đầu ở các cấp học trên, rồi được đi du học, ra trường có cơ hội tiến thân,… nên luôn luôn “ốp” con học thêm. Cha mẹ nghĩ vậy, lại gặp những thầy cô coi việc dạy thêm là phương tiện kiếm sống thì khó có thể xóa bỏ nạn dạy thêm, học thêm được.
Quả tình, việc cấm giáo viên dạy thêm không hợp lý và cũng không có tính khả thi. Bác sĩ có thể khám chữa bệnh ngoài giờ thì giáo viên dạy thêm cũng là chuyện bình thường. Chúng ta chỉ có thể cấm bác sĩ, giáo viên lợi dụng vị thế của mình buộc những người đang phụ thuộc vào mình là bệnh nhân ở bệnh viện mình đang làm việc hay học sinh ở trường mình đang dạy phải đến phòng khám tư của mình hay lớp dạy thêm của mình.
Quy định như vậy là rành mạch nhưng không thể chấm dứt được nạn dạy thêm, học thêm vì cha mẹ học sinh thì ngại nói ra còn cấp quản lý thì làm ngơ trước những hình thức bắt ép học sinh rất rõ ràng như phát cho học sinh hoặc cha mẹ học sinh những tờ đơn in sẵn, điểm danh học sinh đăng ký học thêm hằng ngày,…
Theo tôi, tốt nhất là quy định việc dạy thêm chỉ được thực hiện ở các cơ sở tư thục có đăng kí kinh doanh, đóng thuế đàng hoàng; trường hợp dạy kèm cho con em từng gia đình thì hai bên cần có hợp đồng gia sư. Các cơ sở có chức năng dạy thêm được mời thầy, cô tham gia giảng dạy nhưng thầy, cô không được phép ép buộc hoặc gợi ý cho học sinh của mình đến học, nếu bị phát hiện ra sẽ bị xử lý.
Nhưng mọi giải pháp sẽ chỉ đem lại hiệu quả nếu người cầm cân nảy mực công tâm và nếu các thầy cô nhận thức đúng về vị trí xã hội của mình. Nhà giáo không thể giải quyết khó khăn của mình bằng cách đẩy khó khăn cho những cha mẹ học sinh nghèo.
Hỏi: Ai cũng cho rằng việc “giảm tải” là cần thiết và đúng đắn, nhưng ngay cả những người trong cuộc (những giáo viên hiện đang trực tiếp đứng trên bục giảng) cũng tỏ vẻ hoài nghi và trong những cuộc họp phụ huynh đầu năm nay Ban giám hiệu của các trường đã lên tiếng cảnh báo về điểm tổng kết năm học của học sinh, vấn đề thi chuyển cấp... Phải chăng, nguyên nhân chính của vấn đề là ở đó?
Trả lời: Việc “giảm tải” là cần thiết và đúng đắn nhưng rất khó thực hiện theo kiểu cắt cơ học, bởi vì xét về chương trình học thì sự quá tải nảy sinh; trước hết do chương trình thiếu tính tích hợp và việc bố trí thời khoá biểu quá chặt chẽ, cứng nhắc. Không phải trong khoa học có bao nhiêu ngành thì chương trình phải dạy bấy nhiêu môn riêng rẽ.
Như cấp tiểu học có tận 11 môn học và "hoạt động giáo dục", nhưng tôi cho rằng có thể tích hợp các môn Tiếng Việt, Đạo đức, Khoa học, Địa lý, Lịch sử vào làm một. Là vì, đối với cấp tiểu học, tất cả những nội dung này đều được trình bày thông qua các bài đọc. Chuyên gia của các môn học này có thể ngồi lại với nhau để cùng bàn bạc, soạn thảo ra một chương trình phù hợp mang tính tích hợp cao, bớt được các môn học, tiết kiệm được thời gian, giảm được sự quá tải của chương trình.
Việc bố trí thời gian học trên lớp quá sít sao cũng gây nên quá tải bởi vì giáo viên và học sinh phải chạy đua với thời gian để khỏi “cháy giáo án”, không còn thời gian hoạt động, thư giãn và cũng khó có thể bố trí đi tham quan, dã ngoại. Những bất cập này chắc phải giải quyết bằng một chương trình mới.
Lý do thứ hai gây quá tải là do một số giáo viên chưa hiểu chương trình. Tôi đọc trên báo, thấy có cô giáo nói yêu cầu học sinh lớp 3 kể lại một trận thi đấu thể thao là quá sức các em vì các em không biết luật thi đấu thì làm sao tả được. Nói như vậy là cô nhầm lẫn kể với tả. Thực ra thì chương trình chỉ yêu cầu các em kể lại được một trận đấu được chứng kiến ở trường học, trên đường phố hay trên ti vi,... bằng dăm bảy câu đúng ngữ pháp là đạt, chứ không yêu cầu các em miêu tả một trận đấu thể thao ở cấp quốc gia hay quốc tế. Một “thần đồng” 10 tuổi ở Hà Nội có thể viết cả một cuốn tiểu thuyết khoa học viễn tưởng hấp dẫn dày tới 200 trang trong vòng 3 tháng thì tại sao chúng ta lại sợ các bạn đồng lứa với em không viết nổi dăm bảy câu về một trận trận kéo co, đá cầu, đá bóng quả bưởi,… ?
Hay có giáo viên cho rằng nên duy trì việc cung cấp sẵn vốn từ theo chủ điểm của bài học như chương trình cũ để giúp học sinh làm tập làm văn tốt hơn. Ý kiến này cũng chứng tỏ giáo viên không hiểu chương trình.
Vốn từ được cung cấp sẵn theo chủ điểm là vốn từ thụ động, mang tính tiêu cực, còn chương trình giáo dục mới cung cấp vốn từ một cách tích cực qua các bài đọc, các tình huống ứng xử, các bài tập phát triển vốn từ,… Điều đó sẽ phát huy năng lực giao tiếp của các em tốt hơn nhiều. Nhưng nếu chúng ta vẫn muốn học sinh tiểu học viết văn như văn mẫu thì cung cấp sẵn một bảng từ hay giúp học sinh qua hoạt động tự hệ thống hóa và phát triển vốn từ cũng thế thôi.
Lý do thứ ba dẫn đến quá tải, như tôi đã nói, bắt nguồn từ áp lực của xã hội. Nhiều ông bố bà mẹ hằng ngày còn dạy trước chương trình cho con để khi đến lớp con có thể đạt điểm cao. Theo tôi, bố mẹ làm như vậy là lầm lẫn chức năng. Làm như vậy không khác gì tự bốc thuốc chữa bệnh cho con trước khi đưa con đến bác sĩ. Trách nhiệm của bố mẹ là lo cho con em mình cái ăn cái mặc; dạy con ngoan ngoãn, tôn trọng các quy ước, quy định về nếp sống của cộng đồng, biết cách cư xử văn minh với người xung quanh, đến giờ tự học biết ngồi vào bàn để học; nếu con có thắc mắc thì giải thích cho con nếu có thể v.v... Còn dạy học là việc của thầy cô, tức là những nhà chuyên môn được đào tạo để làm việc này.
Về phía thầy cô, cần hiểu rằng dạy thế nào để đạt yêu cầu là việc của mình, không thể mang chuyện thi cử ra làm áp lực đối với phụ huynh. Ai cũng biết, không thể có 100% học sinh giỏi ở một trường học: Học sinh có em giỏi, em khá, em chỉ học trung bình là chuyện bình thường và hết sức tự nhiên. Chúng ta phải quen dần với chuyện học hành, thi cử và chọn việc làm… phù hợp với năng lực, sở trường, của từng cá nhân, chứ ai cũng nhảy vào "dạy thêm" cho học sinh thì chỉ làm cho việc học của các em trở nên quá tải.
Hỏi: Theo Giáo sư, để “giảm tải” thực sự hiệu quả nên bắt đầu từ đâu và triển khai như thế nào?
Trả lời: Theo tôi, có rất nhiều việc phải làm.
Trước hết, cần xây dựng một chương trình có tính tích hợp và tính linh hoạt về mặt thời gian cao hơn. Trong trường hợp chưa xây dựng được chương trình khác thì cần tập trung "giảm tải" chương trình theo hướng này. Liên quan đến chương trình là việc đổi mới cơ cấu hệ thống giáo dục phổ thông. Như hiện nay, mọi người kêu quá tải suốt từ lớp 1 đến lớp 12.
Nếu hệ thống giáo dục phổ thông được đổi khác đi thì câu chuyện quá tải sẽ không còn gay gắt nữa. Thí dụ, ở nhiều nước châu Âu, hết tiểu học, người ta đã định hướng cho học sinh phân ban tùy theo năng lực của học sinh và nguyện vọng của mỗi gia đình: Học sinh có thể theo học chương trình trung học 6 năm để khi tốt nghiệp có thể vào đại học, học chương trình trung học 5 năm để khi tốt nghiệp vào cao đẳng, cũng có thể học chương trình trung học 4 năm để khi tốt nghiệp thì vào trường nghề. Cha mẹ học sinh và học sinh được lựa chọn chương trình nên không mấy ai kêu quá tải.
Tôi nghĩ hệ thống giáo dục phổ thông của Việt Nam không nên cồng kềnh như hiện nay. Chỉ học hết chín năm là đủ để con người ra đời và sống được. Sau chương trình phổ cập chín năm, đại bộ phận học sinh sẽ vào trường nghề, còn ai có đủ điều kiện để học đại học thì sẽ học hai năm dự bị đại học và chỉ học các môn phục vụ chuyên ngành trong tương lai (ví dụ, học Ngữ văn và Ngoại ngữ để vào đại học Ngoại ngữ; học Hóa, Sinh để vào đại học Y; học Toán, Lý, Hoá để vào các trường khoa học tự nhiên…). Như vậy, vừa giảm được "tải" vừa giảm được thời gian học tập.
Giải pháp thứ hai, theo tôi, là đổi mới chương trình đào tạo của trường sư phạm và cách thức tập huấn, bồi dưỡng giáo viên. Thầy giỏi thì chương trình nào họ dạy cũng có hiệu quả.
Giải pháp thứ ba là phải hóa giải các áp lực xã hội đối với chuyện học hành. Nhà nước cần tăng cường đầu tư và khuyến khích các tổ chức, cá nhân đầu tư mở thêm trường lớp để có chỗ cho học sinh học.
Dĩ nhiên, mở thêm trường lớp phải có quy hoạch, hài hòa giữa các cấp học, các lĩnh vực đào tạo, phù hợp với yêu cầu phát triển của đất nước và nhu cầu của người dân. Chứ mở các trường đại học tràn lan như hiện nay thì sẽ dẫn đến tình trạng chỗ cần thì thiếu trường lớp, chỗ đã dư thừa thì tiếp tục phát triển "quá tải".
- Xin trân trọng cảm ơn Giáo sư!
TRẦN THU HƯƠNG

Thứ Tư, 5 tháng 10, 2011

Tôi cảm thấy chán nản!

           Nguồn: Báo Người Lao động, Chủ Nhật, 02/10/2011
           Đó là tâm trạng của ông Trần Văn Thành, Giám đốc Vườn Quốc gia Cát Tiên, sau khi tham dự hội thảo “Các vấn đề môi trường liên quan đến dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A” do Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam tổ chức ngày 30-9 tại Hà Nội
             * Phóng viên: Thưa ông, tại hội thảo, bài phát biểu của ông về những tác động tiêu cực đến Vườn Quốc gia (VQG) Cát Tiên nếu cho triển khai 2 dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A, dường như không nhận được sự ủng hộ?
            - Ông Trần Văn Thành: Đúng vậy. Tôi cảm thấy chán nản, đơn độc. Tuy nhiên, tôi nghĩ mình đang làm đúng.
            * Ông có biết những người tham gia đóng góp ý kiến tại hội thảo họ có từng tham gia thực địa tại VQG Cát Tiên?
           - Họ đi bằng đường nào tôi không biết, còn thông qua chúng tôi thì hoàn toàn không có. Tôi thật sự buồn, họ nói ảnh hưởng ít, rồi không ảnh hưởng, rồi lại vội vã đề xuất nên cho triển khai 2 dự án này, chỉ chung chung vậy thôi.
          * Một hội thảo chóng vánh trong một buổi sáng, khách mời đa phần là các nhà khoa học và đại biểu chưa từng dự và đóng góp ý kiến tại hội thảo được tổ chức 2 ngày ở phía Nam trước đây, ông nghĩ thế nào?
            - Chính tôi cũng cảm thấy mình như một khách mời bất khả kháng của họ. Tại sao không mời cả những nhà khoa học từng có tiếng nói tâm huyết để cùng nhau giải quyết vấn đề, những tổ chức đã ký bản kiến nghị về 2 dự án thủy điện này đến cơ quan cấp cao.
            Tóm lại, tôi cảm thấy những ý kiến tại hội thảo lần này như đã được gom từ trước, chuẩn bị kỹ để “chọi” lại với dư luận từ trước tới nay. Tôi thấy có điều gì đó không công bằng.
           Các chuyên viên, nhà khoa học khảo sát khu vực dự kiến xây dựng thủy điện trong Vườn Quốc gia Cát Tiên vào tháng 8-2011
          * Tại bản kiến nghị gửi Văn phòng Quốc hội, Văn phòng Chính phủ và 9 cơ quan chức năng vào ngày 14-9, Cơ quan Mạng lưới sông ngòi Việt Nam nêu ý kiến: Nếu không nghiên cứu đầy đủ và đưa ra các giải pháp cụ thể để giảm thiểu tác động tiêu cực, 2 dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A có thể gây “thảm họa” khi đưa vào xây dựng, vận hành. Hội thảo lần này các nhà khoa học khác nói ngược lại, ông nghĩ có sự “lobby” nào ở đây hay không?
          - Mọi việc đều có thể nhưng đây là vấn đề nhạy cảm, tôi không khẳng định. Tôi chỉ muốn hỏi: Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam, đơn vị tổ chức hội thảo này, có thật sự vì môi trường hay không, họ có thực sự khách quan không khi mà những ý kiến từ những người chủ trì hội thảo chỉ nghiêng về phía chủ đầu tư.
          * Với những gì đang diễn ra, theo ông, nó sẽ ảnh hưởng như thế nào đến quá trình đề nghị UNESCO công nhận VQG Cát Tiên là di sản thiên nhiên thế giới?
          - Trách nhiệm của tôi gắn chặt với việc bảo vệ VQG Cát Tiên, bảo vệ môi trường. Nếu phá vỡ môi trường thì sau này con cháu chúng ta sẽ gánh hậu quả.
          Trong tháng 9, chúng tôi đã chỉnh sửa, hoàn thiện hồ sơ gửi lên UNESCO đề nghị công nhận nơi đây là di sản thiên nhiên thế giới, nhưng tôi nghĩ nếu làm thủy điện rồi thì sẽ rất khó thuyết phục họ.
          * Theo ông, vì sao Công ty Cổ phần Tập đoàn Đức Long Gia Lai lại đeo bám quyết liệt 2 dự án thủy điện này?
          - Mục đích chính cũng vì lợi nhuận mà thôi.
                          “Đức Long Gia Lai không tài trợ hội thảo!
           Ngay sau hội thảo ngày 30-9 kết thúc, nhiều phóng viên đã chứng kiến cảnh ông Bùi Pháp, Chủ tịch HĐQT Công ty Cổ phần Tập đoàn Đức Long Gia Lai, vui mừng tới bắt tay, ôm chặt và cảm ơn một số nhà khoa học. Ngoài ra, sự xuất hiện của lãnh đạo 2 tỉnh Bình Phước, Đắk Nông với bài phát biểu ủng hộ xây dựng thủy điện đã làm dấy lên nghi ngờ việc chủ đầu tư bỏ tiền ra tài trợ tổ chức hội thảo.
           Về việc này, ông Bùi Pháp cho rằng trước hội thảo khoảng 10 ngày, ông mới nhận được giấy mời tham dự của Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam và cũng không biết kịch bản, nhà khoa học nào sẽ phát biểu tại hội thảo. “Tôi khẳng định không có chuyện Tập đoàn Đức Long Gia Lai tham gia tài trợ hay cùng tổ chức hội thảo. Cũng không có chuyện bỏ chi phí để lãnh đạo 2 tỉnh Bình Phước và Đắk Nông ra Hà Nội dự hội thảo!”.”T.Kha.
               Xuân Hoàng thực hiện

Thứ Ba, 4 tháng 10, 2011

Thay đổi tư duy về tăng trưởng


Nguồn Báo Người Lao động, thứ Bảy, 01/10/2011 22:29
Mục tiêu được Ủy ban Thường vụ Quốc hội thống nhất trong phiên thảo luận ngày 1-10 về hàng loạt báo cáo phát triển kinh tế - xã hội năm 2012 và cả giai đoạn 5 năm 2011-2015 là đưa lạm phát xuống một con số
Mở đầu phiên thảo luận, đại biểu (ĐB) Trương Thị Mai, Chủ nhiệm Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội (QH), cho rằng vấn đề xã hội được đề cập quá mờ nhạt trong cả báo cáo của Chính phủ và báo cáo thẩm tra của Ủy ban Kinh tế của QH. Đã nhiều lần, ĐBQH góp ý về vấn đề này nhưng chưa được khắc phục.
Nhiều vấn đề chưa được coi trọng
ĐB Phùng Quốc Hiển, Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính Ngân sách của QH, đề xuất không nên tiếp tục chia ngân sách theo cách bao nhiêu phần trăm cho từng lĩnh vực mà cần xác định các lĩnh vực ưu tiên để đầu tư có trọng điểm, không có hiện tượng chỗ thừa, chỗ thiếu.
ĐB Đào Trọng Thi, Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của QH, lo ngại cách làm như ĐB Phùng Quốc Hiển đề xuất sẽ khiến việc mất cân đối trong lĩnh vực kinh tế - xã hội càng thêm trầm trọng, ngân sách sẽ ưu tiên cho các vấn đề kinh tế. ĐB này cảnh báo: “Không phải đầu tư đủ tỉ trọng là đã hoàn thành nhiệm vụ.
Đối với giáo dục và văn hóa, lấy con số chỉ tiêu hoàn thành để đánh giá kết quả thực hiện chính sách là sai lầm. Ví dụ hiện tượng tuyển sinh, đào tạo sinh viên vượt chỉ tiêu đề ra nhưng chất lượng giáo dục, trình độ sinh viên tốt nghiệp đều có vấn đề. “Trong lĩnh vực y tế, chỉ tiêu càng cao là tội lỗi. Cần phải có tiêu chí đánh giá về chất lượng” - ĐB này chốt lại vấn đề.
Không đồng ý với báo cáo của Chính phủ chỉ tóm tắt “mấy dòng quen thuộc lặp đi lặp lại” về an ninh, trật tự xã hội, ĐB Nguyễn Kim Khoa, Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng An ninh của QH, đề nghị Chính phủ phải bổ sung để QH thảo luận, đồng thuận và đi đến thống nhất về chủ trương hành động.
Chủ tịch QH Nguyễn Sinh Hùng bình luận: Thường vụ họp bàn về kinh tế - xã hội nhưng không có bộ trưởng hoặc đại diện Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch, Bộ GD - ĐT tham dự chứng tỏ lĩnh vực này không được quan tâm. Một thành viên của Thường vụ QH báo cáo ngay: Ủy ban Thường vụ có gửi giấy mời nhưng 2 bộ này không có đại diện đi họp.
Hai “kịch bản” tăng trưởng kinh tế
Chính phủ đề ra 2 “kịch bản” tăng trưởng kinh tế trong 5 năm tới: Tăng trưởng GDP bình quân 6,5%/năm, CPI tăng khoảng 7% và GDP tăng khoảng 7%/năm, CPI tăng 5%. 
Tuy nhiên, đã có khá nhiều chỉ tiêu vênh nhau giữa đề nghị của Chính phủ và quan điểm của cơ quan chủ trì thẩm tra, đặc biệt là các chỉ tiêu CPI, nhập siêu và dư nợ công. Ủy ban Kinh tế của QH đề nghị chỉ tiêu CPI phải được đưa về một con số ngay từ năm 2012 và phải dưới 5% vào năm 2015. Riêng chỉ tiêu nhập siêu có độ vênh khá lớn.
Chính phủ đề xuất đưa nhập siêu về dưới 10% so với xuất khẩu vào năm 2015 nhưng Ủy ban Kinh tế của QH lại đề nghị giảm dần từ năm 2012 và đưa về mức 4% vào năm 2015. Ủy ban này cũng đề xuất số nợ Chính phủ không vượt quá 50% GDP và nợ công không quá 60% GDP, thấp hơn 5% so với đề nghị của Chính phủ.
Một số ĐB cho rằng có thể chọn phương án tăng trưởng thấp trong năm 2012 vì đó là giải pháp khả thi trong thời điểm khó khăn. ĐB Phùng Quốc Hiển đồng tình với tốc độ tăng trưởng kinh tế 7% trong 5 năm tới nhưng nhấn mạnh có thể đưa xuống 6,5%, miễn là không thấp hơn 6% để bảo đảm an sinh xã hội. Ông Hiển cho rằng: “Nên thay đổi tư duy tăng trưởng nhanh, bền vững sang phát triển bền vững vì điều kiện Việt Nam chưa đủ đạt cả hai mục tiêu tăng trưởng vừa nhanh vừa bền vững”.
Kết thúc phiên họp, Chủ tịch QH Nguyễn Sinh Hùng nói đây chỉ là thảo luận sơ bộ, sau phiên họp này, Chính phủ và các ủy ban phải bàn bạc thêm, thống nhất các phương án trình QH thông qua.
“Báo cáo trùng lặp, sơ sài: Theo ĐB Phan Trung Lý, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của QH, ông cảm thấy buồn vì nhiều yếu kém, bất cập trong các báo cáo kinh tế - xã hội vẫn lặp đi lặp lại liên tục trong 4 nhiệm kỳ qua. Đến mức đi tiếp xúc cử tri, ông không cần chuẩn bị báo cáo cũng trình bày được. Năm 2011, có 10/24 chỉ tiêu không đạt nhưng Chính phủ không có báo cáo lý do, bài học kinh nghiệm để khắc phục.
Tô Hà